Chat Zalo Gọi điện Messenger

Chân dung PGS.TS Đặng Đức Sơn – Phó Giáo Sư trẻ nhất ngành kinh tế Việt Nam năm 2011 – Chuyên gia đào tạo quản trị tài chính doanh nghiệp

PGS.TS Đặng Đức Sơn

 

Quá trình công tác giữ các chức vụ, học vị, học hàm sau:

  • Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thành Tây
  • Viện trưởng Viện Quản trị Tài chính AFC
  • Chủ tịch HĐQT Công ty CP Nhựa Châu Âu Việt Nam
  • PGS trẻ nhất ngành kinh tế Việt Nam được phong năm 2011
  • Phó trưởng khoa Tài chính – Ngân hàng kiêm Trưởng bộ môn Kế toán – Kiểm toán tại Trường Đại học Kinh Tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
  • Tiến sĩ tốt nghiệp ở Anh – Trường Đại học Glamorgan, Wales, UK – năm 2007
  • Nguyên kiểm toán thu nhập tập đoàn Sungeiway
  • Diễn giả – Chuyên gia đào tạo quản trị tài chính doanh nghiệp

Kinh nghiệm làm việc

Đặng Đức Sơn là chuyên gia tài chính cấp cao với hơn 20 năm kinh nghiệm giảng dạy & làm việc trong lĩnh vực tài chính: Đảm nhiệm vị trí kế toán và kiểm toán thu nhập tại các tập đoàn Quốc tế lớn; Tư vấn về tổ chức kế toán và quản lý tài chính cho nhiều công ty, tập đoàn trong nước và quốc tế; Giảng dạy các môn học về kế toán – tài chính, các khóa phân tích tài chính, Quản trị dòng tiền, tư vấn về Quản trị tài chính cấp cao cho các chủ tịch HĐQT & Giám đốc điều hành tại Việt Nam.

  • Tham gia xây dựng & trực tiếp giảng dạy tại các chương trình đào tạo cử nhân – thạc sĩ trong nước và liên kết Quốc tế: Chương trình cử nhân ĐH Troy, ĐH Benedictine, ĐH South Hampshire (Mỹ), ĐH Help (Malaysia),… Dự án đào tạo kỹ năng tài chính cho chủ doanh nghiệp Thriive (Hoa Kỳ). Dự án Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và Hội đồng Tài chính Vương Quốc Anh (FRC). Trực tiếp xây dựng và vận hành khung chương trình đào tạo về kế toán – kiểm toán cho trường Đại học kinh tế – ĐHQGHN, phụ trách tư vấn chuyên môn chương trình liên kết Đại học Massey (New Zealand). Tham gia công tác quản lý cấp Khoa của trường Đại học Kinh tế – ĐHQGHN về các vấn đề chuyên môn, hợp tác phát triển, công tác sinh viên, nghiên cứu khoa học.
  • Phụ trách công tác hợp tác phát triển mảng chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng và Kế toán – Kiểm toán giữa Trường Đại học Kinh tế – ĐHQGHN và các đối tác trong và ngoài nước như Hiệp hội Kế toán công chứng Anh (ACCA), Hội kế toán – Kiểm toán Việt Nam (AAA), Trường Đại học Winchester (Anh), Đại học Massey  (New Zealand), Công ty chứng khoán SSI, Công ty cổ phần MISA, Hiệp Hội Khởi nghiệp Việt Nam (VINEN)…
  • Giảng dạy tại các chương trình đào tạo ngắn hạn về kỹ năng tài chính và quản lý cho lãnh đạo của HSB, CEDS, VCCI. Chương trình quản trị rủi ro khách hàng cho Công ty Tài chính VietcomBank (VCBL).


PST.TS Đặng Đức Sơn phân tích trên kênh truyền hình Kinh tế Tài chính về quản trị dòng tiền DN.

  • Đảm nhiệm các chương trình Quản lý dự án & thẩm định tài chính dự án cho Liên Doanh dầu khí Việt – Nga (Vietsovpetro), công ty chứng khoán VNDirect, chương trình đào tạo kiểm soát nội bộ của Tổng Công ty Xi Măng Việt Nam (VICEM) & Xi măng Hoàng Mai (VICEM Hoàng Mai), Tập đoàn Than khoáng sản (VINACOMIN), Tập đoàn Viễn Thông CMC (CMCTI), Tổng công ty Bưu chính Viễn Thông (VNPT),…
  • Chủ trì các đề tài cấp Bộ, tham gia các dự án nghiên cứu cho Hội đồng Kế toán tài chính Vương Quốc Anh, Ngân hàng phát triển Châu Á ADB.
  • Trưởng nhóm Tư vấn khảo sát Nguồn tài chính dài hạn cho các dự án hợp tác công tư (PPP) tại Việt Nam do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiến hành theo sự tài trợ của Bộ phát triển Anh quốc; Tham gia lập đề xuất dự án cho các Tỉnh Nam Định, Tp HCM về các chương trình dự án đầu tư theo hình thức hợp tác công – tư (PPP) tại Việt Nam, là chuyên gia đào tạo cho các chương trình đào tạo về hợp tác công – tư do Bộ Kế hoạch Đầu tư tổ chức cho các Sở Ban ngành về triển khai dự án theo hình thức hợp tác công – tư (PPP).

Hiện tại, PGS.TS Đặng Đức Sơn đang tập trung điều hành Viện Quản trị Tài chính AFC với hơn 30 chương trình đào tạo và tư vấn tài chính – kế toán kiểm toán – quản trị kinh doanh cho lãnh đạo các doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước, các tổ chức, tập đoàn kinh tế trong và ngoài nước. PSG đã tham gia gần 50 khóa đào tạo chuyên sâu cho hàng ngàn lãnh đạo doanh nghiệp, cùng các chương trình tư vấn tài chính cao cấp cho các Công ty, Tổng công ty lớn tại Việt Nam.

Lớp CFO K33 tại Hà Nội tìm hiểu báo cáo Lưu chuyển tiền tệ, dự toán và quản trị dòng tiền

 

 

 

Ngày 21/04/2019 vừa qua tại Hà Nội, lớp Giám đốc Tài chính CFO đã có buổi học cùng Chuyên gia Tạ Bảo Lưu tìm hiểu các vấn đề: tổng quan về tiền, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, báo cáo dự toán dòng, phân tích…

(Toàn cảnh lớp CFO K33)

Chuyên gia Ông Tạ Bảo Lưu là một trong những người Việt Nam đầu tiên có Chứng chỉ Kế toán viên công chứng Anh quốc ACCA, M&A, IA, KPI. Chuyên gia có 06 năm làm kế toán cao cấp tại tập đoàn FPT, 07 năm giữ chức vụ trưởng ban kiểm toán nội bộ tại FPT, kinh nghiệm giảng dạy và chia sẻ kiến thức thực tế tại FTMS, CRV, AFC; công ty xi măng Việt Nam VINCEM; Tổng công ty cổ phần xây lắp dầu khí PVC; Công ty TNHH MTV đóng tàu Dung Quất, Quảng Ngãi,…

(Chuyên gia Tạ Bảo Lưu hướng dẫn học viên)

Ông đã chủ trì nhiều dự án như: Dự án đánh giá, soát xét năng suất lao động của FPT IS; dự án nghiên cứu, sắp xếp thu nhập phù hợp với rank cán bộ, các dự án M&A của nhiều công ty…

Đến với buổi học lần này, chuyên gia Tạ Bảo Lưu sẽ hướng dẫn các học viên tìm hiểu :

1. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Là công cụ hữu hiệu để đánh giá sức khỏe tài chính của một doanh nghiệp do không bị ảnh hưởng bởi các nguyên tắc hạch toán kế toán.

Các nguyên nhân gây ra sự biến động số dư tiền giữa hai kỳ kế toán liên tiếp.

Chỉ ra các yếu tố góp phần vào việc làm giảm số dư tiền mặc dù lợi nhuận gia tăng và ngược lại.

2. Tại sao cần dự báo dòng tiền?

Để biết trong một kỳ dự báo thì doanh nghiệp sẽ có thể bị thiếu hay thừa tiền?

Cung cấp dấu hiệu cảnh báo sớm đối với các vấn đề về tính thanh toán và nhu cầu huy động vốn…

3. Dự báo dòng tiền và phân tích

Phân tích lưu chuyển tiền tệ hàng tháng theo Case study chú ý đến các dòng tiền chi lớn đồng thời phân tích tỷ số phản ánh mức sinh tiền của doanh nghiệp…

(Học viên lớp CFO K33)

Bất kỳ tổ chức nào cũng cần tiền mặt để thực hiện các nghiệp vụ thanh toán. Tài sản bằng tiền được coi là có tính lưu động cao nhất và là cơ sở quan trọng đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Tuy nhiên để có thể kiểm soát dòng tiền trong doanh nghiệp cần có sự hỗ trợ của các chuyên gia quản trị giàu kinh nghiệm. Đây cũng chính là lý do Module Quản trị dòng tiền nằm trong chương trình đào tạo Giám đốc Tài chính chuyên nghiệp.

Liên hệ:

Phòng Tuyển sinh & Đào tạo doanh nghiệp – Viện Quản trị Tài chính AFC

0918 924 388
️+84 24 6282 7682 – Máy lẻ 106

Địa chỉ: Tầng 1, Tòa nhà NO6B1, P.Thành Thái, Q.Cầu Giấy, TP.Hà Nội

Cơ sở TP Hồ Chí Minh:  Tầng 4, Tòa nhà 109, đường Cộng Hòa, P.12, Q.Tân Bình, TP.Hồ Chí Minh

Email: info@afc.edu.vn           

W: www.afc.edu.vn

 

Lịch đào tạo Chương trình “Giám đốc Tài chính Quốc tế – CFO” đầu năm 2019

 

 

Chương trình đào tạo CFO chuyên nghiệp được Viện Quản trị Tài chính AFC nghiên cứu thiết kế dành cho lãnh đạo tài chính, kế toán trưởng, nhân sự phụ trách tài chính, kế toán doanh nghiệp. Tổ chức thành công 31  khóa học Giám đốc Tài chính (CFO) với đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm. Kế hoạch triển khai Chương trình đào tạo “Giám đốc Tài chính Quốc tế” K32 sắp tới bắt đầu từ ngày 23/03/2019 đến ngày 12/05/2019 (Thời gian học: 8h30 – 16h30).

Tham gia khóa học “Giám đốc Tài chính CFO chuyên nghiệp” sẽ giúp các học viên:

Phát triển kỹ năng bản thân về phân tích tài chính từ đó có khả năng đánh giá chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp mà học viên đang làm việc.

Học viên có thể tự xây dựng kỹ năng Quản trị Tài chính-Quản trị dự án- Dòng tiền theo mẫu quốc tế thông qua quá trình thực hành trực tiếp trên hệ thống biểu mẫu mà các chuyên gia cung cấp.

Phát triển kỹ năng làm việc và kỹ năng mềm hiệu quả thông qua việc xây dựng hệ thống thông tin tài chính trong doanh nghiệp.

Tham gia giao lưu mở rộng với các chuyên gia tài chính hàng đầu và cơ hội giao lưu với các học viên khác.

(Học viên lớp CFO K29)

Nội dung chính của khóa Giám đốc Tài chính CFO:

1. Module: PHÂN TÍCH & KIỂM SOÁT NỘI BỘ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

– Phân tích tài chính của doanh nghiệp

– Các kỹ thuật phân tích kinh doanh và tài chính

– Case Study: Phân tích & kiểm soát nội bộ tài chính doanh nghiệp

2. Module: QUẢN TRỊ DÒNG TIỀN

– Dòng tiền (Cash Flows) trong hệ thống quản trị tài chính doanh nghiệp

– Thực hành Quản trị các dòng tiền

– Phân tích Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

– Dự toán tiền mặt

– Case study: Quản trị dòng tiền

3. Module: QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DỰ ÁN

– Quản trị dự án đầu tư

– Thẩm định tài chính dự án đầu tư

– Thẩm định tài chính dự án đầu tư – Phân tích kỹ thuật 1 & 2

– Quản trị dự án đầu tư: Phân tích kỹ thuật & quyết toán dự án

Case study: Quản trị tài chính dự án.

4. Module: LẬP KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH

– Lập kế hoạch kinh doanh

– Lập kế hoạch chi phí và tối ưu hóa chi phí

– Cân đối tài chính & Quản trị huy động – sử dụng vốn

– Dự báo tài chính doanh nghiệp

_ Case study: Lập kế hoạch tài chính

(Làm chủ kỹ năng tài chính – Quản trị thành công)

Viện Quản trị Tài chính AFC luôn nỗ lực không ngừng cải tiến quy trình & phương pháp đào tạo, nâng cao chất lượng giảng dạy, cơ sở vật chất hiện đại để mang tới cho các học viên điều kiện học tốt nhất, phù hợp nhất.

Liên hệ:

Phòng Tuyển sinh & Đào tạo doanh nghiệp – Viện Quản trị Tài chính AFC

0918 924 388
️+84 24 6282 7682 – Máy lẻ 106

Địa chỉ: Tầng 1, Tòa nhà NO6B1, P.Thành Thái, Q.Cầu Giấy, TP.Hà Nội

Cơ sở TP Hồ Chí Minh:  Tầng 4, Tòa nhà 109, đường Cộng Hòa, P.12, Q.Tân Bình, TP.Hồ Chí Minh

Email: info@afc.edu.vn           

W: www.afc.edu.vn

 

 

Đào tạo là mắt xích của doanh nghiệp

Bà Nguyễn Thị Vân Anh, Giám đốc điều hành Navigos Search, nhấn mạnh: đào tạo phải trở thành một mắt xích trong chiến lược phát triển chung của mỗi doanh nghiệp.
 
Các doanh nghiệp đã nhận thấy và ngày càng nhận thức rõ ràng vai trò to lớn của nguồn nhân lực đối với sự thành công và phát triển của mình. Đào tạo và phát triển, vì thế, có một vị trí rất then chốt trong chiến lược phát triển nhân sự của doanh nghiệp. Hầu như doanh nghiệp nào cũng có những hoạt động đào tạo và phát triển, có thể dưới nhiều hình thức khác nhau. Có những hình thức phát huy hiệu quả, ngược lại cũng có những hình thức mang lại ít hiệu quả.
 
Tôi biết có những doanh nghiệp trả tiền để nhân viên của họ tham gia các khóa đào tạo chuyên môn như một hình thức thưởng. Theo tôi, việc này mang tính hình thức và tốn kém, không mang lại hiệu quả thực sự. Tôi cũng biết có những doanh nghiệp thành lập hẳn một trung tâm đào tạo và phát triển, hoạt động khá quy mô và phát huy được hiệu quả thực tiễn.
 
– Bà có thể chia sẻ những bước cơ bản trong quy trình lập và thực hiện công tác đào tạo của doanh nghiệp?
 
Trước hết, doanh nghiệp phải có mục tiêu rõ ràng cho bất cứ hoạt động đào tạo nào. Thứ hai, phải đo lường được hiệu quả của công tác đào tạo. Thứ ba, tránh việc đào tạo một cách hình thức, không gắn với chiến lược và mục tiêu chung của doanh nghiệp, vì đào tạo rất tốn kém cả về thời gian, nguồn lực, tiền bạc… Trước khi tiến hành đào tạo, việc đầu tiên cần làm là phải phân tích nhu cầu đào tạo. Thậm chí, còn phải tiến hành kiểm kê những kỹ năng để nhận biết là trong tổ chức đã có những kỹ năng gì, thiếu, thừa cái gì. Dựa trên những phân tích đó, mới quyết định sẽ đào tạo cái gì, đào tạo cho ai, vào thời gian nào và bằng cách thức như thế nào…
 
– Có thể lượng hóa việc đào tạo bằng những công cụ nào?
 
Chúng ta có thể lượng hóa được thông qua việc tính toán số giờ và ngân sách dành cho đào tạo. Ngân sách dành cho đào tạo bằng bao nhiêu phần trăm của tổng doanh thu. Và thống kê được trong một năm một nhân viên được đào tạo bao nhiêu giờ.
 
– Trong thực tế, rất khó đánh giá một cách chính xác hiệu quả của công tác đào tạo nhân viên đối với hoạt động của mỗi công ty. Vậy bằng cách nào có thể đo lường được các tác động của đào tạo?
 
Có nhiều cách để thực hiện điều đó. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam có thể tham khảo cách thức đánh giá hiệu quả đào tạo của Tiến sĩ Donald L.Kirk Patrick, nguyên Chủ tịch Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ. Ông có một cuốn sách nói về bốn cấp trong đánh giá hiệu quả đào tạo. Cấp cao nhất (cấp số 4) đòi hỏi doanh nghiệp phải đo lường được những tác động/ kết quả của đào tạo đối với công việc/ kinh doanh (Return on Investment) thông qua hệ thống đo lường/ đánh giá/ kiểm soát.
 
– Có giải pháp nào thiết thực nhằm giúp nhân viên thay đổi hành vi sau khi đào tạo?
 
Theo Tiến sĩ Kirk Patrick thì bạn đang hỏi về cấp số 3 trong bốn cấp đo lường hiệu quả đào tạo. Tại cấp số 3 này, bạn đánh giá sự thay đổi trong cách cư xử, trong hành động của nhân viên dựa trên những khóa đào tạo mà họ tham gia. Đặc biệt, chúng ta xem họ áp dụng những cái họ học vào thực tế như thế nào. Một điều quan trọng là hành vi chỉ có thể thay đổi khi môi trường cho phép.
 
– Cụ thể là gì?
 
Ví dụ, bạn cử nhân viên đi học một khóa về tinh thần đồng đội và sau đó mong đợi người đó áp dụng vào thực tế công việc. Tuy nhiên, cá nhân đó cũng không thể thay đổi được gì nếu cả tập thể không hiểu về tinh thần đồng đội. Hoặc hệ thống của tổ chức đó không cho phép người này thể hiện tinh thần đồng đội thì không thể kết luận là người này không học được gì. Ví dụ trên một lần nữa cho thấy rằng, không nên đặt công tác đào tạo riêng biệt mà phải biến nó trở thành một mắt xích trong chiến lược phát triển chung của doanh nghiệp. Tôi thấy có nhiều doanh nghiệp đào tạo cho các nhân viên mới cách đột phá, trong khi những bạn trẻ đó cần được đào tạo tại chỗ những kỹ năng làm việc vô cùng cơ bản, những cái rất nhỏ chứ không phải những cái to tát hay mang tính đột phá.

Đào tạo: Chi phí hay đầu tư?

Nguồn nhân lực trong công ty không phải là con số tĩnh tại, mà luôn biến động theo thời gian. Dòng chảy nhân tài luôn vận động theo quy luật của nó, trong khi doanh nghiệp luôn cần có đội ngũ nhân viên đủ lớn, đủ năng lực để thực hiện và hoàn thành mọi công việc đang chờ đợi phía trước. Và đấy chính là điểm khởi đầu cho việc lập ngân sách đào tạo hằng năm.

Thường thì cứ đầu năm mới, các doanh nghiệp xác lập ngân sách đào tạo nhân viên để sử dụng trong cả năm. Ngân sách này được lập theo một quy trình nhất định tùy theo chính sách đầu tư phát triển nguồn nhân lực của từng doanh nghiệp.

Các công ty thường phải thực hiện bước đi mang tên “Phân tích nhu cầu đào tạo” để làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch và ngân sách đào tạo, nhưng đôi khi cũng có tình huống cá biệt.

Câu chuyện sau đây được tóm tắt từ internet có tiêu đề là Xem sai lầm của nhân viên như là dịp đào tạo của tác giả Byron Kalies là một trong những trường hợp cá biệt đó.

Có một nhân viên bán hàng năng lực thuộc loại giỏi nhưng đã phạm phải một sai lầm tệ hại. Trong tính toán dự trữ hàng hóa cho mùa lễ hội, anh đã mua một lượng trái cây tươi quá lớn vì nghĩ là sẽ đem được khoản tiền lời không nhỏ về cho công ty.

Thế nhưng, do ước lượng sai, đến khi lễ hội tàn, anh ta làm cho công ty chết dở vì còn tồn đọng nhiều tấn trái cây đang chảy nước và hư thối.

Hết mùa lễ hội, nhân viên ấy đến văn phòng làm việc và bắt đầu bằng việc sắp xếp gọn giấy má trên bàn rồi lau chùi sạch sẽ mặt bàn. Sau đó, anh ta tiếp tục những công việc lặng lẽ, chờ đợi một bước ngoặt lớn sắp diễn ra với mình.

Rồi chuông điện thoại vang lên: “Anh có thể dừng công việc đến gặp tôi ngay không?”. Đó là cú điện thoại của một giọng nữ – cấp trên trực tiếp của anh ta. “Dạ, tôi đến ngay!” – anh ta đáp.

Sau khi hối hả tiến thẳng đến phòng làm việc của sếp, anh ta bước vào phòng, chào người sếp và nói ngay: “Tôi biết là tôi đã phạm sai lầm lớn. Tôi xin lỗi chị và đã viết đơn xin nghỉ việc”.

Vừa nói, anh ta vừa đặt lá đơn lên mặt bàn. Sếp cầm lấy lá đơn, đọc lướt qua rồi… xé nó làm đôi, lại gấp lại và xé đôi nó thêm một lần nữa. Sau đó, bà vo viên, ném nó vào sọt rác dưới gầm bàn.

“Hôm nay trông anh buồn cười quá” – sếp nói – “Công ty chúng ta đã tốn mấy trăm triệu đồng chi phí đào tạo cho anh lần này đấy. Anh hết cách bỏ chạy rồi. Phải ở lại cố gắng kiếm cách bù đắp cho đủ chi phí đào tạo ấy rồi sau đó công ty mới giải quyết nguyện vọng của anh”.

Đó là một tình huống mà ngân sách đào tạo không được lập kế hoạch từ trước. Nó chỉ lóe lên trong đầu sếp khi người ấy đối diện với một sai lầm lớn của nhân viên dưới quyền và cũng đối diện với lòng tự trọng đang dày vò nhân viên đó.

Nhưng ứng xử này không hề ngẫu hứng, mà có chủ ý rõ ràng. Sếp đã biết “bài học” mà người nhân viên vừa thu được quả là quá lớn, nhưng có vẻ như “chi phí đào tạo” ấy vẫn hợp lý vì sếp tin là sau “khóa đào tạo” như vậy, nhân viên của mình sẽ trưởng thành hơn, mạnh mẽ hơn và tiếp tục mang lại nhiều thành công hơn cho công ty.

Quay lại chuyện lập ngân sách đào tạo. Khi tiến hành “Phân tích nhu cầu đào tạo” thì đó cũng chính là dịp để công ty nắm vững nội dung thật sự cần đào tạo cho đội ngũ nhân viên, từ đó xây dựng ngân sách đầu tư thỏa đáng để nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân viên, giúp họ đủ sức hoàn thành tốt các nhiệm vụ mà công ty giao phó.

Chi phí để phân tích nhu cầu đào tạo xem ra không đáng kể nếu so với chi phí đào tạo cho trường hợp ngoại lệ như câu chuyện vừa kể trên. Trên thực tế, khi chưa thấy cần thiết phải làm thì đến khi gặp trường hợp đặc biệt, “chi phí đào tạo” tính theo trường hợp ngoại lệ như vậy lại quá cao.

Như vậy, vấn đề là nên đầu tư cho công tác đào tạo năng lực chuyên môn cho đội ngũ nhân viên theo hướng nào. Đó là việc mà mỗi doanh nghiệp phải tự lựa chọn và quyết định.

Nguồn nhân lực trong công ty không phải là con số tĩnh tại, mà luôn biến động theo thời gian. Dòng chảy nhân tài luôn vận động theo quy luật của nó, trong khi doanh nghiệp luôn cần có đội ngũ nhân viên đủ lớn, đủ năng lực để thực hiện và hoàn thành mọi công việc đang chờ đợi phía trước. Và đấy chính là điểm khởi đầu cho việc lập ngân sách đào tạo hằng năm.