Hoàn thiện thể chế quản lý thuế, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh.
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 6, sáng 8/11, sau khi biểu quyết thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2019, các đại biểu Quốc hội đã nghe Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính, Ngân sách về dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi).

(Ảnh minh họa: Nguồn Internet)
Dự kiến, dự án Luật quản lý thuế (sửa đổi) trình Quốc hội khoá XIV xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 6 và thông qua tại Kỳ họp thứ 7.
Tạo cơ sở để xây dựng hệ thống quản lý thuế hiện đại trong điều kiện hội nhập
Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi) do Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng trình bày nêu rõ Luật quản lý thuế được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007, đã được sửa đổi, bổ sung ba lần vào các năm 2012, 2014 và năm 2016.
Sau hơn 10 năm thực hiện, Luật quản lý thuế đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Tuy hiên, công tác quản lý thuế nói chung và quy định pháp luật về quản lý thuế nói riêng cũng có những hạn chế bất cập nhất định như việc thường xuyên bổ sung, sửa đổi văn bản luật đã ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế; một số văn bản pháp luật khác cũng có nội dung quy định về quản lý thuế, vì vậy chưa tạo ra sự thống nhất trong các văn bản quy định pháp luật.
Phạm vi điều chỉnh của Luật quản lý thuế chưa bao quát hết các khoản thu khác trong Ngân sách Nhà nước, mặt khác hoạt động kinh doanh của khu vực kinh tế cá thể, hộ gia đình hoặc khu vực kinh tế phi chính thức chưa được quy định đầy đủ…
Qua đánh giá thực trạng việc thực thi Luật quản lý thuế và qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, Chính phủ thấy rằng việc sửa đổi Luật quản lý thuế ở thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, nhằm hoàn thiện thể chế quản lý thuế, thực hiện cải cách hành chính, tạo ra môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh, tạo điều kiện phát triển các thành phần kinh tế; tiếp cận tới các chuẩn mực và thông lệ quốc tế để góp phần thu hút đầu tư trong nước, nước ngoài, tạo cơ sở để xây dựng hệ thống quản lý thuế hiện đại trong điều kiện hội nhập; tạo hành lang pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ thông tin cho công tác quản lý thuế, trong đó có việc áp dụng rộng rãi phổ biến quản lý thuế điện tử, giao dịch điện tử công khai, minh bạch; khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay đồng thời rà soát và thống nhất giữa Luật quản lý thuế và các văn bản pháp luật có liên quan.

(Ảnh minh họa: Nguồn Internet)
Mục đích việc xây dựng Luật quản lý thuế (sửa đổi) hoàn chỉnh, toàn diện nhằm mục đích tạo cơ sở cho quản lý thuế hiện đại, tiếp cận tới những chuẩn mực, thông lệ quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế, cho cơ quan quản lý thuế thực hiện nghiêm quyền, nghĩa vụ của người nộp thuế; quyền và trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế theo quy định pháp luật, tích cực phòng chống tham nhũng, tiêu cực.
Dự thảo Luật gồm 17 chương, 152 điều, với các nội dung chính quy định về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng; nội dung, nguyên tắc quản lý thuế và các hành vi bị cấm; nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan liên quan đến quản lý thuế; về đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế; về các biện pháp xử lý nợ đọng thuế: khoanh nợ, xóa nợ, miễn tiền thuế, tiền chậm nộp; về áp dụng hóa đơn, chứng từ điện tử; về thanh tra, kiểm tra thuế và các giải pháp nhằm nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế.
Dự thảo Luật cũng quy định các nội dung liên quan đến việc xử lý vi phạm hành chính về quản lý thuế; quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết; về quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử…
Bổ sung những nội dung quy định cụ thể hơn về nhiệm vụ, trách nhiệm của các bộ, ngành trong quản lý thuế
Đồng thời, các đại biểu Quốc hội đã nghe Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội Nguyễn Đức Hải trình bày báo cáo thẩm tra dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi).

(Mang đến môi trường kinh doanh lành mạnh )
Theo báo cáo thẩm tra, Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội nhận định hồ sơ trình dự án Luật đã đảm bảo yêu cầu của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và thống nhất với tên gọi của Luật là Luật quản lý thuế (sửa đổi), vì phạm vi sửa đổi lần này khá rộng, bổ sung nhiều nội dung mới phức tạp, quan trọng.
Tuy nhiên, để có cơ sở thẩm tra, đánh giá và để các đại biểu Quốc hội có căn cứ, xem xét cho ý kiến đối với từng nội dung, đề nghị Chính phủ cần thuyết minh rõ hơn về cơ sở, nguyên nhân và lý do cần bổ sung các quy định mới, bỏ những quy định không còn phù hợp trong Luật hiện hành.
Về tính cụ thể của dự án Luật, Ủy ban Tài chính, ngân sách nhận thấy, so với Luật hiện hành thì dự thảo Luật sửa đổi còn nhiều quy định chưa cụ thể. Luật hiện hành có 20 điều giao Chính phủ quy định chi tiết, dự thảo lần này có khoảng 1/4 số điều của Luật (36/152 điều) và 13 khoản giao Chính phủ quy định chi tiết, trong khi đó có khoảng 15 Điều trong Luật hiện hành không giao Chính phủ quy định chi tiết nay lại được bổ sung giao Chính phủ quy định chi tiết, trong khi Tờ trình của Chính phủ không giải thích lý do. Do vậy, đề nghị Chính phủ cần giải trình rõ lý do cụ thể.
Về nguyên tắc quản lý thuế, Ủy ban Tài chính, Ngân sách đề nghị nghiên cứu bổ sung việc áp dụng nguyên tắc "giao dịch độc lập" trong quản lý thuế đối với người nộp thuế có phát sinh giao dịch với các bên có quan hệ liên kết nộp thuế tương xứng với giá trị tạo ra tại Việt Nam đồng thời, bổ sung vào Điều 49 và Điều 50 theo nguyên tắc quản lý thuế căn cứ vào bản chất và nguyên tắc giao dịch độc lập.
Về những hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý thuế, Ủy ban Tài chính, Ngân sách đề nghị cần bố cục, sắp xếp theo từng nhóm đối tượng: cán bộ quản lý thuế, người nộp thuế.
Ngoài ra, dự thảo Luật chưa quy định hành vi bị cấm đối với cơ quan, tổ chức liên quan, do đó cần nghiên cứu, bổ sung nội dung này trong dự án Luật.
Về nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác thuộc Chính phủ trong việc quản lý thuế, Ủy ban Tài chính, Ngân sách đề nghị bổ sung những nội dung quy định cụ thể hơn về nhiệm vụ, trách nhiệm của các bộ, ngành trong quản lý thuế về chống chuyển giá, gửi giá, trốn thuế, xử lý nợ đọng, truy thu thuế, cưỡng chế về thuế.
Về quyền của người nộp thuế, Ủy ban Tài chính, Ngân sách đề nghị bổ sung quy định quyền của người nộp thuế được nhận biên bản của cơ quan Kiểm toán Nhà nước, cơ quan Thanh tra và các cơ quan có thẩm quyền khi kiểm tra, đối chiếu nghĩa vụ thuế của người nộp thuế khi thanh tra, kiểm toán công tác quản lý thu Ngân sách Nhà nước của cơ quan quản lý thuế.
Về xử phạt vi phạm hành chính, Ủy ban Tài chính, Ngân sách cho rằng dự án Luật đã bỏ quy định "về xử lý vi phạm pháp luật về thuế đối với cơ quan quản lý thuế" (Điều 112) và "xử lý vi phạm pháp luật về thuế đối với công chức quản lý thuế" (Điều 113) trong Luật hiện hành, tuy nhiên trong Tờ trình của Chính phủ không làm rõ lý do bỏ các quy định này, trong khi vẫn giữ quy định "về hành vi vi phạm hành chính về thuế đối với tổ chức, cá nhân có liên quan" (Điều 146) là chưa đảm bảo tính thống nhất và công bằng trong xử lý vi phạm về thuế giữa các đối tượng…
Cũng trong phiên họp sáng nay, các đại biểu Quốc hội đã làm việc tại tổ, thảo luận, cho ý kiến về dự án Luật Kiến trúc./.
Nguồn: Bộ Tài chính
Dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi): Nhiều quy định mới có lợi cho người nộp thuế
Dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi), đã bổ sung nhiều quy định mới có lợi cho người nộp thuế (NNT). Việc sửa đổi luật lần này được thực hiện khá công phu, toàn diện, phù hợp với định hướng của Chính phủ là hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp (DN).

(Ảnh minh họa: nguồn Internet)
Một số điểm mới cơ bản, có lợi cho người nộp thuế
* NNT được biết thời hạn giải quyết hoàn thuế, số thuế không được hoàn và vì sao không được hoàn.
* Không bị xử lý vi phạm về thuế, không tính tiền chậm nộp đối với trường hợp do NNT thực hiện theo văn bản của cơ quan quản lý thuế.
* Tăng thời gian khai quyết toán thuế TNCN từ 90 ngày lên 120 ngày kể từ ngày kết thúc năm dương lịch.
* Miễn thuế đối với NNT có số thuế phải nộp hàng năm từ 50.000 đồng trở xuống.
* Được khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi cơ quan thuế đã công bố kết luận thanh tra, kiểm tra thuế

(Ảnh minh họa: nguồn Internet)
Kéo dài thời hạn khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân
Một trong những điểm mới rất đáng chú ý của dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi) lần này, đó là quyền của NNT được mở rộng hơn rất nhiều so với luật hiện hành. Theo đó, ngoài 10 quyền của NNT đã được quy định trong luật hiện hành, dự thảo đã bổ sung thêm 2 quyền nữa. Cụ thể, tại khoản 4, Điều 17 dự thảo quy định: “NNT được hưởng các ưu đãi về thuế, hoàn thuế theo quy định của pháp luật về thuế; được biết thời hạn giải quyết hoàn thuế, số thuế không được hoàn và căn cứ pháp lý đối với số thuế không được hoàn”.
Ngoài ra, tại khoản 10, Điều 17 cũng quy định, NNT không bị xử lý vi phạm về thuế, không tính tiền chậm nộp đối với trường hợp do NNT thực hiện theo văn bản của cơ quan thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến nội dung xác định nghĩa vụ thuế của NNT. Quy định mới này được cho là đã tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho NNT đối với các trường hợp vì lý do nào đó, cơ quan thuế đã xác định không chính xác số thuế phải nộp, gây thiệt hại cho NNT.
Bên cạnh đó, dự thảo luật đã sửa đổi quy định về thời hạn khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân (TNCN) từ 90 ngày thành 120 ngày kể từ ngày kết thúc năm dương lịch (điểm c, khoản 2, Điều 45). Như vậy, quy định trong dự thảo đã kéo dài thêm 1 tháng so với thời hạn quyết toán thuế mà NNT phải thực hiện theo luật hiện hành.
Đánh giá về quy định này, bà Nguyễn Thị Huệ – Công ty TNHH tư vấn thuế CHC cho rằng, việc tăng thời hạn quyết toán thuế từ 90 ngày lên 120 ngày sẽ giúp NNT có thêm thời gian chuẩn bị tài liệu và thu thập chứng từ phục vụ cho quyết toán. “Ngoài ra, thời hạn quyết toán thuế TNCN khác với thời hạn quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và báo cáo tài chính sẽ làm giảm tải công việc của kế toán tại cùng một thời điểm, giúp cho NNT có thời gian kiểm tra kỹ và tránh được những sai sót xảy ra”, bà Huệ nói.
Được khai bổ sung khi đã công bố quyết định thanh tra
Một trong những điểm mới khác rất đáng chú ý của dự thảo luật, đó là: “Khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền đã ban hành kết luận, quyết định xử lý về thuế sau thanh tra, kiểm tra tại trụ sở NNT, thì NNT vẫn được khai bổ sung hồ sơ khai thuế. Trường hợp khai bổ sung làm tăng số thuế phải nộp, giảm số thuế đã được hoàn, giảm số thuế được miễn, giảm thuế, NNT có trách nhiệm nộp đủ số thuế còn thiếu, tiền chậm nộp. Đối với trường hợp này, NNT không bị xử phạt về hành vi khai sai, nhưng phải nộp bổ sung 10% trên số tiền thuế khai thiếu” (khoản 2, Điều 48).

(Ảnh minh họa: nguồn Internet)
Cũng liên quan đến nội dung kê khai và nộp thuế, dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi) quy định thời hạn nộp tiền thuế khai bổ sung là thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế có sai, sót. Đồng thời, bổ sung quy định nộp thuế TNDN tạm nộp theo quý, chậm nhất là ngày 30 của tháng đầu quý sau (khoản 1, Điều 56). Quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho NNT khi thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước.
Theo thoibaotaichinhvietnam
Cảnh báo lừa đảo bán chữ ký số mùa khai thuế
Đến mùa báo cáo thuế hằng quý, nhiều doanh nghiệp lại nhận được hàng loạt mail báo nâng cấp hay gia hạn sử dụng chữ ký số từ các cá nhân xa lạ.

Một trong nhiều mail hù dọa khách hàng – Chị Anh Thư cung cấp
Một tuần qua, chị Anh Thư – làm việc ở một doanh nghiệp tại TP.HCM, cho biết hộp mail cá nhân dùng để đăng ký với cơ quan thuế liên tục nhận hàng loạt email từ nhiều người khác nhau nhưng cùng một công ty mang tên VINA-CA.
Đáng chú ý, các mail này có tiêu đề và nội dung mang tính hù dọa như “Cảnh báo thu hồi token”, “Hết hạn nộp tờ khai quý”, “Tài khoản thuế đang rơi vào tình trạng thu hồi”…Cụ thể các mail này viết : “Được sự phối hợp của cơ quan quản lý thuế và qua sự kiểm duyệt rà soát người nộp thuế. Tính đến thời điểm này, tài khoản khai thuế của Công ty… đã đến thời điểm hết hiệu lực và sẽ ngừng nộp báo cáo quý ngày 10.7.2018. Áp dụng theo quy định tiêu chuẩn bắt buộc về chứng thư số an toàn, yêu cầu an ninh đối với USB Token phải đáp ứng tiêu chuẩn SHA/256. Hiện công ty đang sử dụng Token có version cũ 3.0 ngay lập tức nâng cấp lên version 5.0 nếu không chứng thư số sẽ bị thu hồi và vô hiệu hóa tài khoản nộp thuế. Trung tâm kê khai thuế VINA-CA yêu cầu tất cả các đơn vị sau khi nhận được thông báo này hãy liên hệ ngay với nhân viên chăm sóc khách hàng, ĐT…”. Sau đó, phía dưới là thông tin dịch vụ và nâng cấp USB Token với cước phí từ mức 1.876.000 – 2.519.000 đồng cho thời gian sử dụng từ 12 – 36 tháng.
Khi tìm kiếm thông tin về Công ty VINA-CA, chị Thư không thấy kết quả gì. Thậm chí, chị Thư đã gọi điện đến một trong nhiều số điện thoại của nhân viên chăm sóc khách hàng ghi trong mail để hỏi về việc này nhưng đón tiếp chị là sự thách thức sẽ còn tiếp tục nhận được những email như vậy nữa khi chị chất vấn về việc bị bom mail.
“Thái độ trả lời của họ xấc xược khi tôi chất vấn về các email spam lừa đảo và sau đó cắt ngang điện thoại giữa chừng. Họ lại còn thách thức tôi nữa. Điều đó buộc tôi phải chia sẻ thông tin để cảnh báo cho những ai chưa biết, tránh bị rơi vào bẫy lừa mua hàng”, chị Thư chia sẻ thêm.
Chiêu lừa đảo gửi email liên quan đến chữ ký số đã xuất hiện nhiều năm trước. Nội dung không mới nhưng nhiều người do lơ là cảnh giác vẫn bị sụp bẫy và mất tiền. Ví dụ đại diện của Bkav cho biết, nhiều khách hàng của công ty trong thời gian qua cũng đã nhận được email mời gia hạn hoặc thông báo không đúng về dịch vụ chữ ký số của Bkav để mời khách hàng chuyển đổi dịch vụ.
Trong khi đó, Bkav không gửi email mời khách hàng gia hạn chữ ký số. Do đó nếu khách hàng nhận được email mời gia hạn chữ ký số thì đó là email của đối tượng lừa đảo. Bên cạnh đó, khi gia hạn, Bkav cũng không thu hồi hoặc đổi USB Token. Nếu có đối tượng đề nghị thu hồi hoặc đổi USB Token thì đó là lừa đảo.
Tác động của việc tăng thuế VAT như thế nào?
Trong hơn một năm qua, Bộ Tài chính liên tục đưa ra các đề xuất điều chỉnh tăng thuế suất của một số sắc thuế, từ thuế bảo vệ môi trường, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng (VAT)…
Và mỗi lần đề xuất tăng thuế là một lần Bộ Tài chính nhận được không ít ý kiến phản ứng.

Tăng thuế VAT làm ảnh hưởng đến thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình. Ảnh: Duyên Phan
Vậy, mức độ tác động của việc tăng thuế lên nền kinh tế và hộ gia đình như thế nào, và ai sẽ là người bị ảnh hưởng nhiều nhất?
Cân đối thu – chi kém hiệu quả
Về đề xuất của Bộ Tài chính, nhiều ý kiến thừa nhận rằng, việc tăng thuế là cần thiết, nhất là trong bối cảnh hội nhập hiện nay, có nhiều khoản thu ngân sách nhà nước bị sụt giảm trong đó có dầu thô. Bên cạnh đó, với nhiều hiệp định thương mại tự do được ký kết, nhiều sắc thuế về mức 0%. Nguồn viện trợ không hoàn lại đang có xu hướng giảm dần từ khi Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình. Nếu tiếp tục lạm dụng vay nợ thì gánh nặng nợ sẽ rất lớn.
Trong khi đó, thuế là nguồn thu ngân sách nhà nước lớn nhất, chiếm tới 75 – 80%. Điều này phản ánh gánh nặng thuế tương đối lớn của người dân. Do đó, việc cân nhắc mức tăng thuế suất như thế nào cho phù hợp là điều đáng bàn, bởi đây là việc đánh đổi giữa tăng ngân sách với tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo, thay vì chỉ nghĩ đến việc “tận thu”.
Tuy nhiên, điều quan trọng hơn, sử dụng nguồn thu ngân sách để chi vào đâu là điều cần phải cân nhắc kỹ. Hiện chi thường xuyên chiếm tới 2/3 tổng chi ngân sách. Mặc dù Chính phủ đã có những biện pháp quyết liệt để thắt chặt chi tiêu nhưng thực tế, chi thường xuyên vẫn không giảm, trong khi chi đầu tư phát triển bị hạn chế, thậm chí giảm dần tính theo tỷ lệ so với GDP. Thâm hụt ngân sách của Việt Nam lên tới 6 – 7%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ trung bình của nhóm nước ASEAN-5. Điều này thể hiện việc cân đối thu chi kém hiệu quả. Thu hầu như chỉ đủ cho chi thường xuyên và trả nợ. Việt Nam phải tăng cường vay nợ để có vốn chi cho đầu tư phát triển, kéo theo nợ công tăng cao. Mức nợ công của Việt Nam đã bắt đầu vượt ngưỡng tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế. Nếu không kiểm soát vay nợ, Việt Nam sẽ lún sâu vào nợ nần trước khi kịp “cất cánh”.
Hai kịch bản tăng thuế VAT
Để đo lường mức độ tác động của việc tăng thuế lên nền kinh tế, Nhóm nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) đã đưa ra hai kịch bản tăng thuế VAT dựa trên chi tiêu bình quân và tỷ lệ nghèo ở Việt Nam.
Đại diện cho Nhóm nghiên cứu của VEPR, PGS. TS. Nguyễn Đức Thành cho biết, kịch bản thứ nhất là tăng thuế VAT lên 1,2 lần, tức là các mặt hàng đang chịu thuế VAT 5% và 10% sẽ chịu thuế 6% và 12%. Kịch bản thứ hai là áp dụng mức thuế suất chung 10% cho các mặt hàng, theo đó các mặt hàng đang chịu thuế 5% sẽ chịu thuế 10%.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, mức tăng thuế suất lên 1,2 lần tác động tới hộ gia đình mạnh hơn so với mức tăng chung 10%. Ở kịch bản 1, chi tiêu hộ gia đình giảm đi 0,89%, trong khi kịch bản 2 là 0,32%. Tương ứng với 2 kịch bản, số người nghèo tăng lên từ những người ở ngưỡng cận nghèo lần lượt là 240.000 và 202.000 người. Các hộ gia đình đông người, có tỷ lệ trẻ em, người già trên 80 tuổi, lao động nữ cao hơn; chủ hộ có học vấn thấp và kỹ năng thấp, hộ làm việc trong nông nghiệp dễ rơi vào nghèo đói hơn các nhóm khác khi tăng thuế VAT.
Nguồn thu tăng thêm từ 2 kịch bản tăng thuế nêu trên nếu được sử dụng để đầu tư phát triển, thì thu ngân sách nhà nước tăng lần lượt là 4,9% và 2%, tổng đầu tư toàn xã hội tăng lần lượt là 1,7% và 1,8%, tổng thu nhập và tổng chi tiêu của hộ gia đình sẽ giảm đi hơn 0,9% và 1%. Tuy nhiên, mẫu số chung của cả 2 kịch bản này là sản lượng thực của nền kinh tế đều không tăng lên.
Nhưng nếu sử dụng nguồn tiền tăng thêm này để chi thường xuyên thì thu ngân sách nhà nước sẽ tăng thêm 4,5%. Tuy nhiên, chi tiêu của Chính phủ sẽ tăng thêm gần 7%, trong khi tổng đầu tư toàn xã hội chỉ tăng thêm 0,5%, tổng thu nhập và tổng chi tiêu của hộ gia đình sẽ giảm bớt đi hơn 0,9%. Do đó, sản lượng thực của nền kinh tế không những không tăng lên mà còn bị giảm bớt đi 0,13%.
Theo đánh giá của TS. Lưu Bích Hồ – nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), kết quả nghiên cứu này cùng một số nghiên cứu của tổ chức khác cho thấy, việc tăng thuế VAT làm tăng thu ngân sách là có nhưng không nhiều. Trong khi đó, tác dụng đối với tăng GDP là không có và còn gây mất công bằng xã hội hơn do người nghèo bị ảnh hưởng nhiều hơn, dù người giàu đóng thuế nhiều hơn.
Nợ thuế hơn 83.500 tỉ với hơn 32.000 tỉ không có khả năng thu hồi
Tiền nợ thuế của cả nước cao nhất từ trước đến nay với hơn 83.500 tỉ đồng. Trong đó, nợ thuế không có khả năng thu lên đến trên 32.000 tỉ đồng.

Người dân đến nộp thuế tại một chi cục thuế ở TP. HCM – Ảnh: TTO
Theo báo cáo mới nhất của Tổng cục Thuế, đến thời điểm 31-5, tổng số tiền thuế nợ của cả nước là 83.540 tỉ đồng.
Trong đó, những khoản nợ đến 90 ngày và trên 90 ngày là 50.808 tỉ đồng, chiếm 60,8% tổng số tiền thuế nợ.
Các khoản nợ thuế, phí là 23.814 tỉ đồng, còn lại là nợ liên quan về đất, phạt vi phạm hành chính và chậm nộp thuế.
Đáng chú ý, Tổng cục Thuế cho hay nhóm nợ không có khả năng thu hồi (của người nộp thuế đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, liên quan đến trách nhiệm hình sự, đã tự giải thể, phá sản, ngừng, nghỉ và bỏ địa chỉ kinh doanh) là hơn 32.700 tỉ đồng. Số nợ này chiếm 39,2% tổng số tiền thuế nợ.
Theo Tổng cục Thuế, số nợ đọng thuế các tháng đầu năm 2018 tăng cao chủ yếu do nguyên nhân khách quan như số nợ cũ của những năm trước tồn đọng, không thu hồi được, số tiền chậm nộp tăng lên và tình trạng doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, ngừng hoạt động…
Để đảm bảo số nợ thuế dưới 5% tổng số thu như Quốc hội giao, Tổng cục Thuế cho biết đã yêu cầu các cục thuế địa phương tăng cường đôn đốc, cưỡng chế thu hồi nợ đọng để đảm bảo thu ngay số tiền nợ thuế mới phát sinh (dưới 90 ngày) và giảm số tiền nợ đọng thuế.
Nhìn từ góc độ ưu đãi thuế đối với Đặc khu
Liệu ba đặc khu có trở thành cực tăng trưởng mới cho đất nước xét từ góc độ ưu đãi thuế.
Hôm nọ dự hội thảo nhằm cổ vũ về kỳ vọng phát triển ba đặc khu kinh tế, tôi rất ngạc nhiên với một nhận xét của kinh tế gia trưởng Ngân hàng Thế giới Sebastian Eckardt. Ông nói: “Việt Nam xây dựng ra và làm nhiều đặc khu kinh tế khác nhau, điều này có thể khởi động những “cuộc đua xuống đáy” của chính sách ưu đãi”. Ông giải thích, lẽ ra Việt Nam nên đưa ra những chính sách bằng nhau để tạo môi trường kinh doanh công bằng trên toàn quốc, thay vì chỉ áp dụng những ưu đãi cho riêng ba đặc khu này.
Vì sao Thủ tướng lại phải thổi còi? Chẳng nhẽ ông không muốn tạo thuận lợi cho doanh nghiệp? Thực ra, ông Khải muốn chống lại một “cuộc đua xuống đáy” của các địa phương với nguy cơ hiện hữu là Nhà nước thất thu thuế, làm mất bình đẳng trong môi trường kinh doanh nói chung, gây chảy máu dòng vốn từ địa phương này sang địa phương khác để hưởng ưu đãi và chính sách kinh tế tổng thể của quốc gia bị phá vỡ.
Trở lại dự thảo Luật đặc khu, tôi băn khoăn một số điểm có thể lặp lại những bài học như trên. Dự thảo đề xuất một loạt các chính sách ưu đãi vượt trội so với các quy định hiện hành. Chẳng hạn, kéo dài thời gian áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 10% lên tới 30 năm, đồng thời mở rộng diện áp dụng sang các dự án trong các ngành nghề ưu tiên phát triển của từng đặc khu và dự án đầu tư của nhà đầu tư chiến lược.
Theo quy định pháp luật hiện nay, mức ưu đãi cao nhất về thuế TNDN đối với một số lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư đang được áp dụng tại các khu kinh tế, khu công nghệ cao là áp dụng mức thuế ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm, miễn 4 năm, giảm 50% trong 9 năm tiếp theo.

Đảo ngọc Phú Quốc. Ảnh: Lê Anh Dũng
Dự thảo còn các quy định về thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập cá nhân với mức ưu đãi mở rộng. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp bất động sản cũng thuộc diện ưu đãi đầu tư tại các đặc khu này.
Dự thảo cũng đề cập rất đậm về những ưu đãi cho nhà đầu tư chiến lược. Ví dụ, các dự án đầu tư khu dịch vụ, du lịch và vui chơi giải trí tổng hợp có casino với quy mô vốn đầu tư tối thiểu 45.000 tỷ đồng của các nhà đầu tư chiến lược.
Hiện nay, tại ba đặc khu dự kiến đã và đang tiếp nhận rất nhiều các dự án đầu tư khu du lịch, dịch vụ có quy mô lớn trong khi chưa hề có một ưu đãi đầu tư nào. Vậy thì việc đưa các dự án này vào danh mục ưu đãi đầu tư ưu tiên cao nhất có cần thiết không? Vì sao lại phải ưu đãi với các dự án bất động sản?
Đối với các casino, trở ngại lớn nhất trong thời gian qua chính là quy định về việc người Việt Nam có được phép vào casino hay không chứ không phải là ưu đãi thuế. Như vậy, nếu đặt ra ưu đãi nhưng không cho phép người Việt Nam vào casino thì cũng không thể thu hút các dự án casino; và ngược lại nếu đã cho người Việt vào casino thì ưu đãi trở thành thừa và gây lãng phí. Bên cạnh đó, dự thảo luật đề xuất thời hạn sử dụng đất tối đa 99 năm cho một số dự án đặc biệt nhưng lại không có tiêu chí cụ thể khi cấp đất cũng như chế tài để thu hồi đất với những dự án kém hiệu quả.
Với quy mô các dự án chiến lược nêu trên, có thể nói đại đa số nguồn vốn đầu tư trong tương lai tại các đặc khu sẽ đến từ các dự án của các nhà đầu tư chiến lược. Với những ưu đãi miễn, giảm, ưu đãi hết cỡ như trên, liệu Việt nam sẽ thu được gì? Trong khi đó, dự thảo cho phép chính quyền đặc khu được bội chi đến 70% số thu ngân sách trên địa bàn thì liệu thu có đủ chi?
Bên cạnh đó, với những ưu đãi vượt trội này các địa phương khác trên cả nước trở nên hoàn toàn bất lợi trong việc thu hút các nhà đầu tư trong các lĩnh vực tương tự. Như vậy, ngoại trừ lĩnh vực casino, một khả năng lớn là các nhà đầu tư tiềm năng sẽ bỏ các địa phương còn lại để tập trung vào 3 đặc khu. Xét về tổng thể, môi trường kinh doanh của quốc gia sẽ trở nên không còn công bằng.
Liên quan đến đất đai, dự thảo quy định, các tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng, sở hữu nhà ở thương mại và dự án bất động sản nghỉ dưỡng từ các tổ chức cá nhân trong nước. Đây là điều làm tôi rất suy nghĩ vì trong các trường hợp này là vĩnh viễn, không có giới hạn về thời gian và số lượng.
Dù đất đai là “sở hữu toàn dân” nhưng làm sao “thu hồi” được khi họ đã mua nhà, xây nhà trên đất ở các đặc khu tương lai? Điều này là rất đáng quan tâm vì cả 3 đặc khu dự kiến đều có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng. Tôi nghĩ, lẽ ra phải quy định chặt chẽ để lường trước vấn đề an ninh, chủ quyền quốc gia.
Tháng 12/2017, Việt Nam đã bị EU liệt kê vào Danh sách xám gồm 46 quốc gia bị theo dõi về vi phạm thuế. Một trong những lý do là Việt Nam bị cho là có những ưu đãi thuế có hại trong các khu chế xuất. Dự thảo Luật đặc khu đưa ra những quy định ưu đãi còn vượt quá cả các nội dung trước đó áp dụng với các khu chế xuất. Liệu chúng ta có đối diện với nguy cơ bị chuyển từ Danh sách xám lên nhóm các nước thuộc Danh sách đen với các biện pháp giám sát chặt chẽ về thuế và thương mại hay không?
Mong muốn, kỳ vọng biến ba đặc khu dự kiến là Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc trở thành cực tăng trưởng mới là rất chính đáng trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay. Bên hành lang Quốc hội sáng 6/6, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng khẳng định, ưu đãi thuế đã không còn nhiều. Song, những ưu đãi như vậy cũng cần suy tính, thảo luận thêm, đặc biệt trong bối cảnh có tới 85% doanh nghiệp FDI được khảo sát cho biết họ không cần ưu đãi thuế.
Theo Tư Giang – vietnamnet.vn
Đề xuất tăng thuế VAT lên 12%: Chuyên gia, doanh nghiệp nói gì?
Bộ Tài chính mới đây đã đề xuất tăng thuế VAT lên 12% từ năm 2019 với lý do mức VAT hiện tại 10% tương đối thấp, không phù hợp với thông lệ quốc tế, khó đảm bảo an toàn tài chính quốc gia. Phương án tăng thuế VAT này ngay lập tức nhận được nhiều ý kiến trái chiều từ phía người dân, doanh nghiệp, chuyên gia kinh tế…
Doanh nghiệp lo người dân “thắt lưng buộc bụng"
Ông Phan Văn Hiệu, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Dược phẩm CVI, cho biết, nếu tăng thuế VAT thì các chi phí đầu vào sẽ tăng dẫn đến giá hàng hoá sẽ tăng theo. Về quy luật, VAT đánh vào người tiêu dùng, tức sẽ phải mua hàng hoá với giá đắt đỏ hơn. Song thực tế, doanh nghiệp sẽ chịu thiệt hại gián tiếp bởi người dùng họ chỉ nhìn vào giá trên bao bì, thấy giá cao quá thì họ tiết kiệm chi tiêu không mua nữa, từ đó ảnh hưởng đến doanh thu của công ty.
"Sau nhiều năm lâm vào khó khăn kinh tế, đa số doanh nghiệp vừa và nhỏ đang làm ăn rất khó khăn thậm chí là bế tắc. Người dân trong lúc thu nhập chưa tăng luôn có xu hướng tiết kiệm, chi tiêu một đồng cũng phải đắn đo suy nghĩ. Điều cần làm lúc này là chính sách thông thoáng, giảm các khoản thuế phải nộp để tạo ra môi trường kinh doanh dễ thở với khởi nghiệp, các doanh nghiệp đang hoạt động thì có thêm khoản lợi nhuận tốt để quay lại tái đầu tư, mở rộng hoạt động, mua công nghệ nâng cao sức cạnh tranh hàng hoá so với hàng ngoại”, ông Hiệu nói và khẳng định không có lý do nào thuyết phục về việc tăng thuế VAT.
Đặc biệt, ông Hiệu còn cho rằng việc tăng thuế lên cao trong bối cảnh không kiểm soát chặt chẽ thu thuế sẽ dẫn đến vấn nạn trốn thuế gia tăng.
“Khi thuế VAT tăng, các doanh nghiệp sẽ có xu hướng tìm cách lách thuế, trốn thuế. Cũng giống như đi ăn nhà hàng, khách có thể từ chối lấy hoá đơn để không phải chịu phần thuế VAT từ đó làm giảm nguồn thu của nhà nước. Cho nên, đánh thuế cao chỉ khổ những doanh nghiệp làm ăn tử tế, đóng thuế đầy đủ bởi sản phẩm làm ra không thể cạnh tranh với những doanh nghiệp lách thuế”, ông Hiệu nói.
Ông Đặng Như Quỳnh, Giám đốc Công ty Cổ phần 999999999 – chuyên nhập khẩu các dòng xe ôtô sang cho biết với các doanh nghiệp nhập khẩu thì tăng thuế VAT tác động rất lớn đến giá cả hàng hoá bởi đây là loại thuế tính trên tổng của giá trị hàng hoá sau khi có thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt.
Ông Quỳnh lấy ví dụ, nhập khẩu một chiếc xe Lexus 570 với giá CIF về tới cảng 114.844 USD. Thuế nhập khẩu hiện là 51% tương ứng 58.570 USD, Thuế tiêu thụ đặc biệt là 130% tương ứng 225.438 USD. Thuế VAT được tính trên tổng giá CIF cộng với các loại thuế nhập khẩu và Thuế tiêu thụ đặc biệt tức là khoảng 10% của tổng 438.600 USD, tương đương 43.860 USD. Nếu tăng lên 12% thì mức VAT sẽ lên tới 52.632 USD, tương ứng giá xe Lexus 570 đến tay người tiêu dùng sẽ đội lên khoảng 8.772 USD.
Đó là chưa kể để chiếc xe lăn bánh trên đường, chủ xe phải đóng nhiều thứ khác như phí trước bạ 12%, biển số…
VAT là loại thuế đánh vào người tiêu dùng nên nếu tăng thuế giá cả hàng hoá sẽ tăng theo. Với các hàng hoá nhập khẩu thì VAT thì giá sẽ tăng với biên độ mạnh hơn.
Liên tục đề xuất tăng loạt các sắc thuế, gốc rễ vấn đề do đâu?
Không chỉ đề xuất tăng thuế VAT, Bộ Tài chính mới đây còn kiến nghị tăng loạt các sắc thuế như Tiêu thụ đặc biệt với các loại nước ngọt, trà, cà phê đóng lon theo dây chuyền; thuốc lá; tăng thuế với xe bán tải… Đặc biệt, trước đó đề tăng khung thuế bảo vệ môi trường với xăng từ mức 3.000 đồng lên 8.000 đồng/lít.
Trao đổi với VnEconomy, TS. Huỳnh Thế Du đến từ Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, cho biết, so với các nước trong khu vực, gánh nặng thuế khóa ở Việt Nam đang rất nặng nề. Chi tiêu ngân sách đang rất lớn.
Năm 2016 tỷ lệ thu ngân sách/GDP chiếm tới 22,5%, cao hơn so với Singapore, Thái Lan, Indonesia, Hồng Kông, Hàn Quốc, Philippines, Maylaysia, Trung Quốc và chỉ thấp hơn so với Nhật Bản. Tỷ lệ chi ngân sách ở Việt Nam năm 2016 chiếm tới 28,3% GDP và cũng cao hơn một loạt các nước kể trên, chỉ thấp sau Nhật Bản
Ông Du cho rằng tỷ lệ này cho thấy gánh nặng thuế khoá nặng nề ảnh hưởng lớn tới người dân, doanh nghiệp và sức cạnh tranh trực diện của nền kinh tế. Đặc biệt, đối với doanh nghiệp vốn sức cạnh tranh đã yếu, việc tăng thuế sẽ làm sức cạnh tranh của hàng Việt.
“Người dân đang phải chịu gánh nặng thuế lớn so với thu nhập của họ, đặc biệt đóng thuế cao nhưng an sinh, phúc lợi xã hội vẫn chưa tốt. Việc nay tăng thuế này mai tăng thuế kia không giải quyết được gốc rễ của vấn đề mà phải làm sao cho bộ máy biên chế bớt cồng kềnh, cắt bỏ được bộ phận biên chế không hiệu quả, làm việc kém hiệu quả”, ông Du nói.
Ông Du khẳng định, việc cần làm hiện nay là tinh giản bộ máy và cắt giảm chi tiêu để hiệu quả hơn chứ không phải là tiếp tục tăng thuế và tăng các nguồn thu, nhất là loại thuế đánh vào người nghèo, có tính lũy thoái như thuế VAT.
"Nhà nước kiến tạo là một nhà nước phải hiệu quả, giúp cho đời sống của người dân dễ chịu hơn, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp dễ dàng hơn chứ không phải ngày càng tạo thêm gánh nặng cho người dân và doanh nghiệp, nhất là những người có vị thế bất lợi hơn trong xã hội”, TS. Huỳnh Thế Du nêu quan điểm.
TS. Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển kinh doanh, cho rằng, VAT là thuế gián thu, đánh trực tiếp vào hàng hoá, đương nhiên sẽ làm giá hàng hóa tăng lên, ảnh hưởng tới người tiêu dùng. Đồng thời tác động ngược trở lại doanh nghiệp, làm sức cạnh tranh của doanh nghiệp giảm đi".
Vị chuyên gia cho rằng, việc tăng thuế VAT sẽ làm tăng thu ngân sách mà lại dễ thực hiện nhất bởi "cứ có hóa đơn bán hàng là thu" nhưng cần cân nhắc bởi không có tác dụng điều chỉnh theo thu nhập, hỗ trợ người nghèo, điều chỉnh xã hội như thuế trực thu.
"Các nước đều hạn chế thuế gián thu, một số ít đánh thuế 10%, một số 5%, có nước như nhiều bang tại Mỹ không thu. Tuy nhiên, VAT có tác động tới hàng hoá, ngay trực tiếp tới người tiêu dùng, thậm chí là người nghèo bị ảnh hưởng nhiều hơn. Ví dự như người nghèo thu nhập 6 triệu đồng thì dành tới 4 triệu đồng chi tiêu ăn uống tiêu dùng, tỷ lệ thuế sẽ cao trong khi với người giàu thu nhập 100 triệu đồng, chỉ dành 20% tiêu dùng thôi", ông Nghĩa nói.
Một số đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt
Theo quan điểm của Bộ Tài chính, công tác nghiên cứu điều chỉnh, bổ sung Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) nhằm điều tiết tiêu dùng và thực hiện các cam kết quốc tế.
Theo đó, Bộ Tài chính đề xuất nghiên cứu điều chỉnh, bổ sung đối tượng chịu thuế TTĐB để hướng dẫn điều tiết tiêu dùng phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội; xây dựng lộ trình điều chỉnh thuế đối với các mặt hàng thuốc lá, bia, rượu, ô tô… để điều tiết tiêu dùng và thực hiện các cam kết quốc tế.
Đồng thời, nghiên cứu, bổ sung quy định về giá tính thuế đối với một số trường hợp hợp tác, phân công giữa các nước trong chuỗi sản xuất toàn cầu, bảo đảm điều tiết công bằng giữa hàng hóa, dịch vụ sản xuất trong nước và hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu; nghiên cứu áp dụng kết hợp giữa thuế suất theo tỷ lệ và thuế suất tuyệt đối đối với một số hàng hóa, dịch vụ chịu thuế.
Theo đó, Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung về 05 nội dung của Luật Thuế TTĐB, cụ thể:
Thứ nhất, bổ sung mặt hàng nước ngọt vào đối tượng chịu thuế
Bộ Tài chính đề nghị bổ sung nước ngọt bao gồm loại có ga, không ga, tăng lực, thể thao, trà, cà phê uống liền đóng gói gọi chung là đồ uống có đường vào đối tượng chịu thuế TTĐB với mức thuế suất 10% áp dụng từ năm 2019 (trừ nước trái cây, nước rau quả 100% tự nhiên, sữa).
Theo lý giải của Bộ Tài chính, đồ uống có đường là loại nước giải khát được nhiều người yêu thích. Tuy nhiên, việc sử dụng đồ uống có đường gắn liền với tăng năng lượng nạp vào cơ thể, tăng cân và béo phì và nhiều ảnh hưởng xấu đến cơ thể bao gồm tim mạch và tiểu đường.
Do vậy, để hướng dẫn điều tiết tiêu dùng đối với đồ uống có đường và phù hợp với thông lệ quốc tế, Bộ Tài chính đề nghị bổ sung nước ngọt bao gồm loại có ga, không ga, tăng lực, thể thao, trà, cà phê uống liền được đóng gói theo dây chuyền sản xuất công nghiệp, trừ: nước trái cây, nước rau quả 100% tự nhiên, sữa và các sản phẩm sữa vào đối tượng chịu thuế TTĐB.
Bộ Tài chính trình Chính phủ 02 phương án thuế suất như sau: Một là, áp dụng mức thuế suất 10% áp dụng từ năm 2019; Hai là, áp dụng mức thuế suất 20% áp dụng từ năm 2019. Trong đó, Bộ Tài chính đề xuất thực hiện theo phương án 1.
Thứ hai, về thuế suất đối với thuốc lá
Với thuốc lá, báo cáo của Bộ Tài chính cũng dẫn nguồn từ WHO cho rằng, thuốc lá là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong trên thế giới. Trong khi đó, Việt Nam hiện đang nằm trong nhóm 15 nước có số người hút thuốc lá cao nhất thế giới. Tỷ lệ người hút thuốc ở Việt Nam cao theo đánh giá có nhiều nguyên nhân trong đó có giá bán lẻ thuốc lá còn thấp, thanh thiếu niên dễ tiếp cận.
Do vậy, để hạn chế thanh thiếu niên tiếp cận với thuốc lá, bảo vệ sức khỏe cộng đồng Bộ Tài chính đề xuất 2 phương án:
Phương án 1 là áp thuế tiêu thụ đặc biệt theo phương pháp hỗn hợp (cả thuế suất tỷ lệ và thuế suất tuyệt đối). Bổ sung mức thu tuyệt đối 1.000 đồng/bao thuốc lá 20 điếu và 1.500 đồng/một điếu xì gà. Quy định này được đề nghị áp dụng từ năm 2020.
Phương án 2 được Bộ Tài chính đưa ra là tăng thuế suất theo lộ trình, từ năm 2020, mức thuế sẽ tăng từ 75% lên 80%. Từ năm 2021, mức thuế sẽ tăng lên 85%.
Nêu quan điểm của mình, Bộ Tài chính cho rằng, phương thức kết hợp thuế suất theo tỷ lệ và thuế tuyệt đối được nhiều nước phát triển (khoảng 48 nước). Do vậy, Bộ Tài chính đề xuất theo phương án 1.
Thứ ba, thuế suất thuế với mặt hàng ô tô vừa chạy bằng xăng kết hợp với năng lượng điện
Bộ Tài chính cho biết, Luật Thuế TTĐB hiện hành quy định: “Xe ô tô chạy bằng xăng kết hợp năng lượng điện, năng lượng sinh học, trong đó tỷ trọng xăng sử dụng không quá 70% số năng lượng sử dụng áp dụng thuế suất thuế TTĐB bằng 70% mức thuế suất áp dụng cho xe cùng loại quy định tại các điểm 4a, 4b, 4c và 4d của Biểu thuế quy định tại Điều này”.
Quy định nêu trên nhằm khuyến khích người tiêu dùng sử dụng các loại xe thân thiện với môi trường là loại xe có hai động cơ: động cơ xăng và động cơ điện. Trong điều kiện bình thường xe chủ yếu chạy bằng động cơ điện và động cơ xăng có tính chất dự phòng (khi ác quy dùng để chạy động cơ điện hết điện), lượng khí thải ra môi trường thấp hơn nhiều so với loại xe ô tô thông thường khác.
Tuy nhiên, do quy định chưa rõ nên một số doanh nghiệp đề nghị áp dụng ưu đãi thuế TTĐB đối với xe Hybrid (năng lượng điện có được do chuyển hoá từ nhiên liệu xăng, như các loại xe Lexus dòng hl, Prius, Camry hybrid, Honda Insight). Do vậy, Bộ Tài chính trình Chính phủ quy định rõ: Xe ô tô chạy bằng xăng kết hợp với năng lượng điện (xe nạp điện bằng hệ thống sạc điện riêng).
Thứ tư, thuế suất với xe ô tô vừa chở người vừa chở hàng (xe bán tải)
Theo quy định tại Luật Thuế TTĐB hiện hành thì xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng áp dụng thuế suất thuế TTĐB như sau: Loại có dung tích xi lanh từ 2.500 cm3 trở xuống: Áp dụng thuế suất thuế TTĐB 15%; Loại có dung tích xi lanh trên 2.500 cm3 đến 3.000 cm3: Áp dụng thuế suất thuế TTĐB: 20%; Loại có dung tích xi lanh trên 3.000 cm3: Áp dụng thuế suất thuế TTĐB 25%.
Theo Bộ Tài chính, trong những năm qua số lượng xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng nhập khẩu và tiêu dùng tăng nhanh, cụ thể: Năm 2012 lượng xe tiêu thụ: 3.291 xe, trong đó: xe nhập khẩu là 3.252 xe, xe lắp ráp trong nước 39 xe. Đến năm 2016 lượng xe tiêu thụ: 28.233 xe, trong đó: xe nhập khẩu 27.265 xe; xe lắp ráp trong nước: 968 xe.
Do loại xe này có thuế suất thuế TTĐB thấp hơn so với xe ô tô chở người có cùng số chỗ ngồi, như dòng xe SUV thuế suất thuế TTĐB áp dụng đối với loại trên 2.500 cm3 đến 3.000 cm3 là 55%, nên một số người tiêu dùng đã chuyển sang mua xe bán tải thay vì mua xe SUV.
Để góp phần định hướng tiêu dùng loại xe vừa chở người vừa chở hàng và phù hợp với mục đích sử dụng loại xe này, ngày 14/3/2017, Văn phòng Chính phủ đã có thông báo số 133/TB-VPCP thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng tại cuộc họp về tình hình nhập khẩu ô tô.
Trong đó, giao Bộ Tài chính nghiên cứu, đánh giá lại mức thuế tiêu thụ đặc biệt, lệ phí trước bạ đối với xe ô tô bán tải để đề xuất báo cáo Chính phủ và Quốc hội kịp thời bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với thực tế và mục đích sử dụng loại xe này.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, qua nghiên cứu rà soát, Bộ Tài chính thấy rằng: Các nước trong khu vực thường áp dụng thuế suất thuế TTĐB đối với xe ô tô vừa chở người vừa chở hàng ở mức thấp hơn mức thuế suất đối với xe ô tô chở người dưới 9 chỗ.
Do vậy, để bảo đảm đúng mục đích sử dụng xe, Bộ Tài chính đề nghị áp dụng mức thuế suất thuế TTĐB bằng 60% mức thuế suất xe con cùng dung tích xi lanh. Loại này chủ yếu có dung tích từ 2.000 đến 3.000 cm3 nên nếu thuế suất là 55% như xe từ 9 chỗ ngồi trở xuống thì mức thuế suất của xe bán tải là 33%.
Thứ năm, sửa đổi giá tính thuế với ô tô sản xuất trong nước
Tại khoản 1 Điều 6 Luật thuế TTĐB quy định: Đối với hàng hóa sản xuất trong nước, hàng hóa nhập khẩu là giá do cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu bán ra.
Theo đánh giá của Bộ Công Thương thì quy định nêu trên chưa thực sự khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, chưa tạo điều kiện cho hàng sản xuất trong nước cạnh tranh được với hàng nhập khẩu. Do vậy, ngày 28/4/2017, Bộ Công Thương đã có báo cáo số 34/BC-BCT về đánh giá ngành sản xuất, lắp ráp ô tô Việt Nam và các giải pháp phát triển. Trong đó có báo cáo liên quan đến tỷ lệ nội địa hóa đối với xe cá nhân đến 9 chỗ ngồi còn thấp so với mục tiêu đề ra.
Do vậy, để khuyến khích doanh nghiệp nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh giữa ô tô sản xuất trong nước và ô tô nhập khẩu, Bộ Công Thương đề xuất thay đổi giá tính thuế TTĐB đối với xe sản xuất trong nước theo hướng không tính thuế TTĐB đối với phần giá trị gia tăng tạo ra trong nước (linh kiện, phụ tùng) nhằm tăng năng lực cạnh tranh cho các sản phẩn sản xuất lắp ráp trong nước, khuyến khích các hãng xe nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng được sản xuất trong nước.
Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính trình Chính phủ 02 phương án như sau:
Phương án 1: Giá tính thuế TTĐB đối với mặt hàng ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống sản xuất trong nước là giá do cơ sở sản xuất bán ra trừ đi giá trị linh kiện, phụ tùng sản xuất trong nước.
Phương án 2: Giá tính thuế TTĐB đối với mặt hàng ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống được thực hiện theo quy định hiện hành. Theo đó, giá tính thuế TTĐB đối với mặt hàng ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống sản xuất trong nước là giá do cơ sở sản xuất bán ra (không trừ giá trị linh kiện, phụ tùng sản xuất trong nước).
Chính sách về lao động – tiền lương có hiệu lực từ 15/8/2017
1. Nghị định 76/2017/NĐ-CP điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng
Nghị định 76/2017/NĐ-CP điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng kể từ ngày 01/7/2017.
Theo đó, từ ngày 01/7/2017, tăng thêm 7,44% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng của tháng 6/2017 đối với các đối tượng quy định tại Điều 1 Nghị định này.
2. Thông tư 18/2017/TT-BLĐTBXH hướng dẫn việc điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng
Tại Điều 2, Thông tư 18, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn chi tiết về việc điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng.
3. Thông tư 67/2017/TT-BTC của Bộ Tài Chính hướng dẫn việc xác định nhu cầu, nguồn và phương thức chi thực hiện điều chỉnh trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã đã nghỉ việc theo Nghị định 76
Đồng thời, tại Thông tư 67/2017/TT-BTC của Bộ Tài Chính cũng hướng dẫn rõ việc xác định nhu cầu, nguồn và phương thức chi thực hiện điều chỉnh trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã đã nghỉ việc theo Nghị định 76.
4. Thông tư 19/2017/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động
Ngày 03/7/2017, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư 19/2017/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động.
Theo đó, quy định về nội dung huấn luyện, bồi dưỡng cho người huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động tại Tổ chức huấn luyện đủ điều kiện hoạt động hoặc doanh nghiệp đủ điều kiện tự huấn luyện như sau:
Một là, huấn luyện nghiệp vụ gồm: chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; phương pháp phân tích, đánh giá và kiểm soát rủi ro, xây dựng kế hoạch ứng cứu khẩn cấp; nghiệp vụ công tác tự kiểm tra, điều tra tai nạn lao động…
Hai là, huấn luyện kỹ năng: kỹ năng soạn bài giảng; thuyết trình; tư vấn, hướng dẫn, tuyên truyền về an toàn, vệ sinh lao động; kỹ năng sử dụng các phương tiện hỗ trợ huấn luyện.
Ba là, huấn luyện các chuyên đề bắt buộc gồm: an toàn, vệ sinh lao động trong sản xuất, vận hành, sửa chữa thiết bị điện; thiết bị yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động; hóa chất; xây dựng; khai thác khoáng sản.
Ngoài ra, các nội dung huấn luyện chuyên sâu khác phù hợp với năng lực người huấn luyện và do người huấn luyện đăng ký tham dự.
Hoàn thuế giá trị gia tăng đối với dự án đầu tư căn cứ vào những quy định nào?
Nhằm giúp các Cục Thuế địa phương trong việc hướng dẫn doanh nghiệp hoàn thuế giá trị gia tăng đối với các dự án đầu tư đúng theo quy định, ngày 14/7/2017, Tổng cục Thuế có Văn bản số 3118/TCT-CS hướng dẫn cụ thể về cách xác định và hoàn thuế giá trị gia tăng.
Khoản 3 Điều 1 Luật số 106/2016/QH13 ngày 06/4/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) quy định: Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng hoặc trong quý thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo.
Trường hợp cơ sở kinh doanh đã đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới, đang trong giai đoạn đầu tư có số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư mà chưa được khấu trừ và có số thuế còn lại từ ba trăm triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT.
Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế GTGT mà được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo đối với các trường hợp sau:
– Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh không góp đủ số vốn Điều lệ như đã đăng ký; kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có Điều kiện khi chưa đủ các Điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật đầu tư hoặc không bảo đảm duy trì đủ Điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động;
– Dự án đầu tư khai thác tài nguyên, khoáng sản được cấp phép từ ngày 1/7/2016 hoặc dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hàng hóa mà tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên theo dự án đầu tư.
Tại khoản 6 Điều 1 Nghị định 100/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ cũng quy định cụ thể về hoàn thuế GTGT đối với cơ sở kinh doanh như sau:
Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, hoặc dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, nếu thời gian đầu tư từ 01 năm trở lên thì được hoàn thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho đầu tư theo từng năm. Trường hợp, nếu số thuế GTGT lũy kế của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT.
Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế GTGT mà được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo đối với các trường hợp sau:
– Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật Đầu tư quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 13 Luật thuế GTGT đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế là dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nhưng cơ sở kinh doanh chưa được cấp giấy phép kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; Chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; Chưa có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đầu tư kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; Hoặc chưa đáp ứng được điều kiện để thực hiện đầu tư kinh doanh có điều kiện mà không cần phải có xác nhận, chấp thuận dưới hình thức văn bản theo quy định của pháp luật về đầu tư.
– Dự án đầu tư khai thác tài nguyên, khoáng sản được cấp phép từ ngày 1/7/2016 hoặc dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hàng hóa mà tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên theo dự án đầu tư.
Về vấn đề hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư cũng được hướng dẫn tại Khoản 3 Điều 1 Thông tư 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể:
Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, hoặc dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, nếu thời gian đầu tư từ 01 năm trở lên thì được hoàn thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho đầu tư theo từng năm, trừ trường hợp hướng dẫn tại Điểm c Khoản 3 Điều này.
Trường hợp, số thuế GTGT lũy kế của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT.
Cơ sở kinh doanh sẽ không được hoàn thuế GTGT và được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo đối với các trường hợp sau:
– Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký theo quy định của pháp luật. Các hồ sơ đề nghị hoàn thuế dự án đầu tư nộp từ ngày 01/7/2016 của cơ sở kinh doanh nhưng tính đến ngày nộp hồ sơ không góp đủ số vốn điều lệ như đăng ký theo quy định của pháp luật thì không được hoàn thuế.
– Dự án đầu tư khai thác tài nguyên, khoáng sản được cấp phép từ ngày 01/7/2016 hoặc dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hàng hóa mà tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên theo dự án đầu tư.
Việc xác định tài nguyên, khoáng sản; trị giá tài nguyên, khoáng sản và thời điểm xác định trị giá tài nguyên, khoáng sản và chi phí năng lượng thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 23 Điều 4 Thông tư 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 của Bộ Tài chính. Theo đó, tỷ trọng trị giá tài nguyên, khoáng sản và chi phí năng lượng trên giá thành được thực hiện theo công thức sau:
Tỷ trọng trị giá tài nguyên, khoáng sản và chi phí năng lượng trên giá thành sản xuất sản phẩm | = | Trị giá tài nguyên, khoáng sản – chi phí năng lượng | x | 100% |
Tổng giá thành sản xuất sản phẩm |
Trong đó: Trị giá tài nguyên, khoáng sản là giá vốn tài nguyên, khoáng sản đưa vào chế biến; đối với tài nguyên, khoáng sản trực tiếp khai thác là chi phí trực tiếp, gián tiếp khai thác ra tài nguyên, khoáng sản; đối với tài nguyên, khoáng sản mua để chế biến là giá thực tế mua cộng chi phí đưa tài nguyên, khoáng sản vào chế biến; Chi phí năng lượng gồm: nhiên liệu, điện năng, nhiệt năng; Trị giá tài nguyên, khoáng sản và chi phí năng lượng được xác định theo giá trị ghi sổ kế toán phù hợp với Bảng tổng hợp tính giá thành sản phẩm; Giá thành sản xuất sản phẩm bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
Các chi phí gián tiếp như chi phí bán hàng, chi phí quản lý, chi phí tài chính và chi phí khác không được tính vào giá thành sản xuất sản phẩm.
Việc xác định trị giá tài nguyên, khoáng sản, chi phí năng lượng và giá thành sản xuất sản phẩm căn cứ vào quyết toán năm trước; trường hợp DN mới thành lập chưa có báo cáo quyết toán năm trước thì căn cứ vào phương án đầu tư.
Từ những quy định trên, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau: Đối với dự án đầu tư của DN mới thành lập để sản xuất sản phẩm từ tài nguyên, khoáng sản thì Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn xác định trị giá tài nguyên, khoáng sản, chi phí năng lượng và giá thành sản xuất căn cứ vào phương án đầu tư.
Trường hợp xác định sản phẩm sản xuất từ tài nguyên, khoáng sản có tỷ lệ giá trị tài nguyên, khoáng sản, chi phí năng lượng trên giá thành sản xuất dưới 51% thì xử lý hoàn thuế theo quy định.





