Cùng Lớp Giám đốc Tài chính CFO K29 thực hành Thẩm định dự án đầu tư
Ngày 07/10/2018 vừa qua, lớp CFO K29 đã có buổi học cùng Chuyên gia PGS.TS Nguyễn Văn Định với

(PGS.TS Nguyễn Văn Định trong buổi học cùng lớp CFO K29)
Thẩm định dự án đầu tư đã trở thành khái niệm quen thuộc với nhiều người nhất là các nhà quản lý, các chuyên gia Tài chính hoặc nhà cố vấn, tư vấn về tài chính.
Vậy thẩm định dự án đầu tư là gì?
Thẩm định dự án đầu tư là một quá trình áp dụng kỹ thuật phân tích toàn diện nội dung dự án đã được thiết lập theo một trình tự hợp lý và theo những tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật để đi đến kết luận có cơ sở về hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế xã hội môi trường nhằm đáp ứng yêu cầu mục tiêu phát triển của chủ đầu tư và của quốc gia.

(Các học viên lớp CFO K29 trong giờ học)
Trong buối học này sẽ mang tới các nội dung chính sau:
1. Các vấn đề chung về dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư
2. Tìm hiểu khái niệm thẩm định dự án đầu tư
3. Các nội dung thẩm định dự án đầu tư
4. Thấm định tài chính dự án đầu tư
5. Thực hành qua các ví dụ và bài tập tình huống
Vai trò của thẩm định dự án đầu tư đối với nhà đầu tư là gì?
Giúp thấy được các nội dung của dự án có đầy đủ hay còn thiếu hoặc sai sót ở nội dung nào, từ đó căn cứ để chỉnh sửa hoặc bổ sung một cách đầy đủ.
Nhằm xác định được tính khả thi về mặt tài chính, qua đó biết được khả năng sinh lời cao hay thấp/
Biết được những rủi ro có thể xảy ra trong tương lai, từ đó nhà đầu tư chủ động có những giải pháp nhằm ngăn ngừa hoặc hạn chế rủi ro một cách thiết thực và có hiệu quả nhất.

(Các học viên tập trung nghiên cứu các nội dung buổi học)
Với lượng lớn học viên tham gia chương trình, Viện Quản trị Tài chính AFC Việt Nam cám ơn sự tin tưởng và đồng hành cùng AFC trong suốt thời gian vừa qua. Khóa Giám đốc Tài chính tiếp theo sẽ khai giảng vào ngày 13/10/2018 nếu bạn đang làm trong ngành Kế toán Tài chính muốn trau dồi thêm các kiến thức chuyên sâu vậy thì đừng bỏ lỡ . Đăng ký tham gia ngay Tại đây
Hoặc liên hệ : Phòng Đào tạo – Viện Quản trị Tài chính AFC
Hotline: 0918 924 388
Tel: +84 24 6282 7682 – Máy lẻ 106
Địa chỉ: Tầng 1, Tòa nhà NO6B1, Phố Thành Thái, Cầu Giấy, Hà Nội
Đề xuất tăng thuế VAT lên 12%: Chuyên gia, doanh nghiệp nói gì?
Bộ Tài chính mới đây đã đề xuất tăng thuế VAT lên 12% từ năm 2019 với lý do mức VAT hiện tại 10% tương đối thấp, không phù hợp với thông lệ quốc tế, khó đảm bảo an toàn tài chính quốc gia. Phương án tăng thuế VAT này ngay lập tức nhận được nhiều ý kiến trái chiều từ phía người dân, doanh nghiệp, chuyên gia kinh tế…
Doanh nghiệp lo người dân “thắt lưng buộc bụng"
Ông Phan Văn Hiệu, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Dược phẩm CVI, cho biết, nếu tăng thuế VAT thì các chi phí đầu vào sẽ tăng dẫn đến giá hàng hoá sẽ tăng theo. Về quy luật, VAT đánh vào người tiêu dùng, tức sẽ phải mua hàng hoá với giá đắt đỏ hơn. Song thực tế, doanh nghiệp sẽ chịu thiệt hại gián tiếp bởi người dùng họ chỉ nhìn vào giá trên bao bì, thấy giá cao quá thì họ tiết kiệm chi tiêu không mua nữa, từ đó ảnh hưởng đến doanh thu của công ty.
"Sau nhiều năm lâm vào khó khăn kinh tế, đa số doanh nghiệp vừa và nhỏ đang làm ăn rất khó khăn thậm chí là bế tắc. Người dân trong lúc thu nhập chưa tăng luôn có xu hướng tiết kiệm, chi tiêu một đồng cũng phải đắn đo suy nghĩ. Điều cần làm lúc này là chính sách thông thoáng, giảm các khoản thuế phải nộp để tạo ra môi trường kinh doanh dễ thở với khởi nghiệp, các doanh nghiệp đang hoạt động thì có thêm khoản lợi nhuận tốt để quay lại tái đầu tư, mở rộng hoạt động, mua công nghệ nâng cao sức cạnh tranh hàng hoá so với hàng ngoại”, ông Hiệu nói và khẳng định không có lý do nào thuyết phục về việc tăng thuế VAT.
Đặc biệt, ông Hiệu còn cho rằng việc tăng thuế lên cao trong bối cảnh không kiểm soát chặt chẽ thu thuế sẽ dẫn đến vấn nạn trốn thuế gia tăng.
“Khi thuế VAT tăng, các doanh nghiệp sẽ có xu hướng tìm cách lách thuế, trốn thuế. Cũng giống như đi ăn nhà hàng, khách có thể từ chối lấy hoá đơn để không phải chịu phần thuế VAT từ đó làm giảm nguồn thu của nhà nước. Cho nên, đánh thuế cao chỉ khổ những doanh nghiệp làm ăn tử tế, đóng thuế đầy đủ bởi sản phẩm làm ra không thể cạnh tranh với những doanh nghiệp lách thuế”, ông Hiệu nói.
Ông Đặng Như Quỳnh, Giám đốc Công ty Cổ phần 999999999 – chuyên nhập khẩu các dòng xe ôtô sang cho biết với các doanh nghiệp nhập khẩu thì tăng thuế VAT tác động rất lớn đến giá cả hàng hoá bởi đây là loại thuế tính trên tổng của giá trị hàng hoá sau khi có thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt.
Ông Quỳnh lấy ví dụ, nhập khẩu một chiếc xe Lexus 570 với giá CIF về tới cảng 114.844 USD. Thuế nhập khẩu hiện là 51% tương ứng 58.570 USD, Thuế tiêu thụ đặc biệt là 130% tương ứng 225.438 USD. Thuế VAT được tính trên tổng giá CIF cộng với các loại thuế nhập khẩu và Thuế tiêu thụ đặc biệt tức là khoảng 10% của tổng 438.600 USD, tương đương 43.860 USD. Nếu tăng lên 12% thì mức VAT sẽ lên tới 52.632 USD, tương ứng giá xe Lexus 570 đến tay người tiêu dùng sẽ đội lên khoảng 8.772 USD.
Đó là chưa kể để chiếc xe lăn bánh trên đường, chủ xe phải đóng nhiều thứ khác như phí trước bạ 12%, biển số…
VAT là loại thuế đánh vào người tiêu dùng nên nếu tăng thuế giá cả hàng hoá sẽ tăng theo. Với các hàng hoá nhập khẩu thì VAT thì giá sẽ tăng với biên độ mạnh hơn.
Liên tục đề xuất tăng loạt các sắc thuế, gốc rễ vấn đề do đâu?
Không chỉ đề xuất tăng thuế VAT, Bộ Tài chính mới đây còn kiến nghị tăng loạt các sắc thuế như Tiêu thụ đặc biệt với các loại nước ngọt, trà, cà phê đóng lon theo dây chuyền; thuốc lá; tăng thuế với xe bán tải… Đặc biệt, trước đó đề tăng khung thuế bảo vệ môi trường với xăng từ mức 3.000 đồng lên 8.000 đồng/lít.
Trao đổi với VnEconomy, TS. Huỳnh Thế Du đến từ Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, cho biết, so với các nước trong khu vực, gánh nặng thuế khóa ở Việt Nam đang rất nặng nề. Chi tiêu ngân sách đang rất lớn.
Năm 2016 tỷ lệ thu ngân sách/GDP chiếm tới 22,5%, cao hơn so với Singapore, Thái Lan, Indonesia, Hồng Kông, Hàn Quốc, Philippines, Maylaysia, Trung Quốc và chỉ thấp hơn so với Nhật Bản. Tỷ lệ chi ngân sách ở Việt Nam năm 2016 chiếm tới 28,3% GDP và cũng cao hơn một loạt các nước kể trên, chỉ thấp sau Nhật Bản
Ông Du cho rằng tỷ lệ này cho thấy gánh nặng thuế khoá nặng nề ảnh hưởng lớn tới người dân, doanh nghiệp và sức cạnh tranh trực diện của nền kinh tế. Đặc biệt, đối với doanh nghiệp vốn sức cạnh tranh đã yếu, việc tăng thuế sẽ làm sức cạnh tranh của hàng Việt.
“Người dân đang phải chịu gánh nặng thuế lớn so với thu nhập của họ, đặc biệt đóng thuế cao nhưng an sinh, phúc lợi xã hội vẫn chưa tốt. Việc nay tăng thuế này mai tăng thuế kia không giải quyết được gốc rễ của vấn đề mà phải làm sao cho bộ máy biên chế bớt cồng kềnh, cắt bỏ được bộ phận biên chế không hiệu quả, làm việc kém hiệu quả”, ông Du nói.
Ông Du khẳng định, việc cần làm hiện nay là tinh giản bộ máy và cắt giảm chi tiêu để hiệu quả hơn chứ không phải là tiếp tục tăng thuế và tăng các nguồn thu, nhất là loại thuế đánh vào người nghèo, có tính lũy thoái như thuế VAT.
"Nhà nước kiến tạo là một nhà nước phải hiệu quả, giúp cho đời sống của người dân dễ chịu hơn, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp dễ dàng hơn chứ không phải ngày càng tạo thêm gánh nặng cho người dân và doanh nghiệp, nhất là những người có vị thế bất lợi hơn trong xã hội”, TS. Huỳnh Thế Du nêu quan điểm.
TS. Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển kinh doanh, cho rằng, VAT là thuế gián thu, đánh trực tiếp vào hàng hoá, đương nhiên sẽ làm giá hàng hóa tăng lên, ảnh hưởng tới người tiêu dùng. Đồng thời tác động ngược trở lại doanh nghiệp, làm sức cạnh tranh của doanh nghiệp giảm đi".
Vị chuyên gia cho rằng, việc tăng thuế VAT sẽ làm tăng thu ngân sách mà lại dễ thực hiện nhất bởi "cứ có hóa đơn bán hàng là thu" nhưng cần cân nhắc bởi không có tác dụng điều chỉnh theo thu nhập, hỗ trợ người nghèo, điều chỉnh xã hội như thuế trực thu.
"Các nước đều hạn chế thuế gián thu, một số ít đánh thuế 10%, một số 5%, có nước như nhiều bang tại Mỹ không thu. Tuy nhiên, VAT có tác động tới hàng hoá, ngay trực tiếp tới người tiêu dùng, thậm chí là người nghèo bị ảnh hưởng nhiều hơn. Ví dự như người nghèo thu nhập 6 triệu đồng thì dành tới 4 triệu đồng chi tiêu ăn uống tiêu dùng, tỷ lệ thuế sẽ cao trong khi với người giàu thu nhập 100 triệu đồng, chỉ dành 20% tiêu dùng thôi", ông Nghĩa nói.
Hoàn thuế giá trị gia tăng đối với dự án đầu tư căn cứ vào những quy định nào?
Nhằm giúp các Cục Thuế địa phương trong việc hướng dẫn doanh nghiệp hoàn thuế giá trị gia tăng đối với các dự án đầu tư đúng theo quy định, ngày 14/7/2017, Tổng cục Thuế có Văn bản số 3118/TCT-CS hướng dẫn cụ thể về cách xác định và hoàn thuế giá trị gia tăng.
Khoản 3 Điều 1 Luật số 106/2016/QH13 ngày 06/4/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) quy định: Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng hoặc trong quý thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo.
Trường hợp cơ sở kinh doanh đã đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới, đang trong giai đoạn đầu tư có số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư mà chưa được khấu trừ và có số thuế còn lại từ ba trăm triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT.
Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế GTGT mà được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo đối với các trường hợp sau:
– Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh không góp đủ số vốn Điều lệ như đã đăng ký; kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có Điều kiện khi chưa đủ các Điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật đầu tư hoặc không bảo đảm duy trì đủ Điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động;
– Dự án đầu tư khai thác tài nguyên, khoáng sản được cấp phép từ ngày 1/7/2016 hoặc dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hàng hóa mà tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên theo dự án đầu tư.
Tại khoản 6 Điều 1 Nghị định 100/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ cũng quy định cụ thể về hoàn thuế GTGT đối với cơ sở kinh doanh như sau:
Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, hoặc dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, nếu thời gian đầu tư từ 01 năm trở lên thì được hoàn thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho đầu tư theo từng năm. Trường hợp, nếu số thuế GTGT lũy kế của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT.
Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế GTGT mà được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo đối với các trường hợp sau:
– Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật Đầu tư quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 13 Luật thuế GTGT đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế là dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nhưng cơ sở kinh doanh chưa được cấp giấy phép kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; Chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; Chưa có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đầu tư kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; Hoặc chưa đáp ứng được điều kiện để thực hiện đầu tư kinh doanh có điều kiện mà không cần phải có xác nhận, chấp thuận dưới hình thức văn bản theo quy định của pháp luật về đầu tư.
– Dự án đầu tư khai thác tài nguyên, khoáng sản được cấp phép từ ngày 1/7/2016 hoặc dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hàng hóa mà tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên theo dự án đầu tư.
Về vấn đề hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư cũng được hướng dẫn tại Khoản 3 Điều 1 Thông tư 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể:
Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, hoặc dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, nếu thời gian đầu tư từ 01 năm trở lên thì được hoàn thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho đầu tư theo từng năm, trừ trường hợp hướng dẫn tại Điểm c Khoản 3 Điều này.
Trường hợp, số thuế GTGT lũy kế của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT.
Cơ sở kinh doanh sẽ không được hoàn thuế GTGT và được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo đối với các trường hợp sau:
– Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký theo quy định của pháp luật. Các hồ sơ đề nghị hoàn thuế dự án đầu tư nộp từ ngày 01/7/2016 của cơ sở kinh doanh nhưng tính đến ngày nộp hồ sơ không góp đủ số vốn điều lệ như đăng ký theo quy định của pháp luật thì không được hoàn thuế.
– Dự án đầu tư khai thác tài nguyên, khoáng sản được cấp phép từ ngày 01/7/2016 hoặc dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hàng hóa mà tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên theo dự án đầu tư.
Việc xác định tài nguyên, khoáng sản; trị giá tài nguyên, khoáng sản và thời điểm xác định trị giá tài nguyên, khoáng sản và chi phí năng lượng thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 23 Điều 4 Thông tư 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 của Bộ Tài chính. Theo đó, tỷ trọng trị giá tài nguyên, khoáng sản và chi phí năng lượng trên giá thành được thực hiện theo công thức sau:
Tỷ trọng trị giá tài nguyên, khoáng sản và chi phí năng lượng trên giá thành sản xuất sản phẩm | = | Trị giá tài nguyên, khoáng sản – chi phí năng lượng | x | 100% |
Tổng giá thành sản xuất sản phẩm |
Trong đó: Trị giá tài nguyên, khoáng sản là giá vốn tài nguyên, khoáng sản đưa vào chế biến; đối với tài nguyên, khoáng sản trực tiếp khai thác là chi phí trực tiếp, gián tiếp khai thác ra tài nguyên, khoáng sản; đối với tài nguyên, khoáng sản mua để chế biến là giá thực tế mua cộng chi phí đưa tài nguyên, khoáng sản vào chế biến; Chi phí năng lượng gồm: nhiên liệu, điện năng, nhiệt năng; Trị giá tài nguyên, khoáng sản và chi phí năng lượng được xác định theo giá trị ghi sổ kế toán phù hợp với Bảng tổng hợp tính giá thành sản phẩm; Giá thành sản xuất sản phẩm bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
Các chi phí gián tiếp như chi phí bán hàng, chi phí quản lý, chi phí tài chính và chi phí khác không được tính vào giá thành sản xuất sản phẩm.
Việc xác định trị giá tài nguyên, khoáng sản, chi phí năng lượng và giá thành sản xuất sản phẩm căn cứ vào quyết toán năm trước; trường hợp DN mới thành lập chưa có báo cáo quyết toán năm trước thì căn cứ vào phương án đầu tư.
Từ những quy định trên, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau: Đối với dự án đầu tư của DN mới thành lập để sản xuất sản phẩm từ tài nguyên, khoáng sản thì Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn xác định trị giá tài nguyên, khoáng sản, chi phí năng lượng và giá thành sản xuất căn cứ vào phương án đầu tư.
Trường hợp xác định sản phẩm sản xuất từ tài nguyên, khoáng sản có tỷ lệ giá trị tài nguyên, khoáng sản, chi phí năng lượng trên giá thành sản xuất dưới 51% thì xử lý hoàn thuế theo quy định.
Đăng ký khấu trừ thuế cho dự án DN mới

Đăng ký khấu trừ thuế cho dự án đầu tư của DN mới
Ngày 19/10/2013 AFC Vietnam sắp khai giảng khóa Quản trị tài chính dự án
Ngày 19/10/2013 Viện Quản trị tài chính AFC Việt Nam trân trọng thông báo khai giảng khóa học “ Tài chính dự án đầu tư” với ưu đãi đặc biệt dành cho khách hàng đăng kí sớm.





