Chat Zalo Gọi điện Messenger

Chương trình Giám đốc Tài chính (CFO) Online + Live streaming

 

GIÁM ĐỐC TÀI CHÍNH – LÀM CHỦ HỆ THỐNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

 
Ở góc độ cá nhân, “chân dung” của một CFO chuyên nghiệp ngày nay cũng đã khác xa so với trước đây. Một người là CFO giỏi của ngày hôm qua chưa chắc đã có thể đứng vững ở vị trí của CFO ngày hôm nay, chứ chưa nói đến chuyện thành công.

Làm thế nào để trở thành một CFO chuyên nghiệp?


Viện Quản trị Tài chính AFC hân hạnh mang đến chương trình 10.000 Chuyên gia Tài chính cao cấp với những giảng viên là những chuyên gia hàng đầu trong quản trị tài chính đã và đang làm việc trong các tập đoàn Quốc tế hoặc được tu nghiệp ở các nước có nền tài chính phát triển. Phương châm ‘tư duy qua hành động” được áp dụng triệt để giúp học viên nắm vững kiến thức và kỹ năng chuyên sâu về quản trị tài chính trong hoạt động kinh doanh, đầu tư và tài chính của các doanh nghiệp.

 

Đồng hành cùng học viên CFO Hà Nội tuần qua

Tiếp tục chương trình đào tạo Giám đốc tài chính – CFO, Viện Quản trị tài chính AFC đã triển khai các buổi đào tạo cho học viên CFO K47. Lớp học diễn ra trong 2 ngày 05/09/2020 và 06/09/2020 tại trụ sở Hà Nội của Viện

Là buổi học của khóa K47

Khóa đào tạo lần này là khóa K47 của Viện Quản trị Tài chính AFC. Đến với Khóa Giám đốc tài chính – CFO, lớp K47 tuần vừa qua đã tìm hiểu những nội dung của Module Phân tích tài chính và KSNB tài chính doanh nghiệp.

Đây là 1 trong 4 Module cốt lõi nhất của chương trình đào tạo, gồm:

1.      Quản Trị Dòng Tiền

2.      Quản trị tài chính dự án

3.      Phân tích tài chính và KSNB tài chính doanh nghiệp

4.      Lập kế hoạch tài chính

Cũng như những buổi học khác, học viên tham gia rất đông đủ, tập trung tìm hiểu và trao đổi sôi nổi các vấn đề giảng viên đưa ra.

Ở các buổi học sau, lớp CFO K47 sẽ tiếp tục tìm hiểu Module còn lại của chương trình.

Ná»™i dung chính cá»§a Module Phân tích tài chính

Chuyên gia tài chính cao cấp – PGS.TS Đặng Đức Sơn là Giảng viên đồng hành cùng học viên CFO K47 trong Module Phân tích tài chính doanh nghiệp.

Theo đó, chuyên gia sẽ hướng dẫn học viên tìm hiểu các nội dung chính:

·        Kỹ năng phân tích tài chính cho chủ doanh nghiệp

·        Kỹ năng kiểm tra báo cáo tài chính

·        PT khả năng thanh toán của DN

·        Phân tích khả năng sinh lời của doanh nghiệp

Chương trình đào tạo Giám đốc tài chính của Viện Quản trị Tài chính AFC đặc biệt hơn các đơn vị đào tạo khác. Xuyên suốt toàn bộ chương trình, Giảng viên không những cung cấp kiến thức cần thiết cho học viên mà còn giúp họ rèn luyện để nâng cao nhiều kỹ năng nghề nghiệp.

Các Case Study và tình huống thực tiễn được Giảng viên lồng ghép phù hợp sau mỗi vấn đề. Qua đó, học viên sẽ nhìn nhận vấn đề, phân tích, đánh giá,.Từ đó xâu chuỗi, nắm được phương pháp đúng sai, nắm kiến thức tốt hơn.

 

Tìm hiểu Module Lập kế hoạch tài chính cùng lớp CFO K44 TP. Hồ Chí Minh

Nếu như lớp CFO khóa K44 tại Hà Nội khai giảng vào ngày 9/5/2020 thì lớp CFO khóa K44 tại TP. Hồ Chí Minh khải giảng vào ngày 16/5/2020 (tức là vào cuối tuần qua). Đại diện lãnh đạo Viện Quản trị tài chính AFC, Giám đốc Viện – PGS – TS Đặng Đức Sơn đã chủ trì lễ khai giảng. Đồng thời, thầy cũng là Giảng viên phụ trách giảng dạy học viên sau buổi khai giảng.

Học viên CFO K44 TP Hồ Chí Minh tìm hiểu Module gì

Sau lễ khai giảng, lớp CFO K44 tại TP. Hồ Chí Minh đã tìm hiểu module "Lập kế hoạch tài chính". Nói đến công việc của một người làm tài chính, một nhà quản trị tài chính, một giám đốc tài chính,…thì lập kế hoạch tài chính là một công việc rất quan trọng. Bởi kế hoạch này là nhân tố thành – bại của mọi doanh nghiệp.

Nếu thiếu một kế hoạch tài chính khả thi, nhà quản lý khó có cái nhìn tổng quát về tình hình/ hiện trạng doanh nghiệp. Từ đó, dẫn đến việc sử dụng dòng tiền kém hiệu quả, bị động trong thanh khoản. Kéo theo đó là sự thiếu ổn định trong hoạt động doanh nghiệp, không đạt được mục tiêu đề ra.

Nội dung "Lập kế hoạch tài chính" học viên đã tìm hiểu

Trong Module Lập kế hoạch tài chính, học viên sẽ được thầy Sơn giới thiệu về Lập KHTC cũng như tầm quan trọng của nó trong doanh nghiệp. Sau đó, học viên sẽ được lần lượt tìm hiểu qua các nội dung:

  • Lập kế hoạch và dự báo doanh thu
  • Lập kế hoạch tồn kho dự trữ
  • Lập kế hoạch tài chính hoạt động sản xuất mua hàng
  • Lập kế hoạch chi phí hoạt động
  • Lập kế hoạch dòng tiền và điều hành dòng tiền

Trong quá trình giảng dạy, thầy Sơn đã liên tục đưa các Case Study thực tiễn từ các doanh nghiệp để học viên phân tích, đánh giá và nhận định. Bên cạnh đó còn có các bài tập thực hành để học viên nâng cao kỹ năng. Vì vậy, ngoài lý thuyết quan trọng, học viên còn tích lũy được nhiều kỹ năng, nắm vững kiến thức để vận dụng vào công việc sau này một cách tốt nhất.

Khóa Giám đốc tài chính K44 tuần qua tìm hiểu nội dung gì

Cuối tuần qua, Viện Quản trị Tài chính AFC đã tổ chức khóa đào tạo Giám đốc tài chính – CFO trực tiếp tại trụ sở của Viện. Đây cũng là buổi học trực tiếp trở lại đầu tiên sau thời gian đồng hành cùng cả nước chống dịch Covid-19 kéo dài.

Là buổi học của khóa K44

Khóa đào tạo lần này là khóa K44 của Viện Quản trị Tài chính AFC. Đến với Khóa Giám đốc tài chính – CFO, lớp K44 sẽ bắt đầu tìm hiểu những nội dung của Module đầu tiên, đó là: Phân tích tài chính và KSNB tài chính doanh nghiệp.

Đây là 1 trong 4 Module cốt lõi nhất của chương trình đào tạo, gồm:

  1. Phân tích tài chính và KSNB tài chính doanh nghiệp
  2. Lập kế hoạch tài chính
  3. Quản trị dòng tiền DN
  4. Quản trị tài chính dự án

Theo các chuyên gia nhận xét thì phần lớn, người làm tài chính ở Việt Nam còn yếu/ còn thiếu cả kiến thức lẫn kỹ năng ở 4 mảng này. Vì vậy, chương trình đào tạo Giám đốc tài chính của Viện Quản trị Tài chính AFC ra đời nhằm giúp người làm tài chính nước ta trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng để hỗ trợ doanh nghiệp tốt hơn, tham mưu cho các cấp lãnh đạo hiệu quả hơn.

Ở các buổi học sau, lớp CFO K44 sẽ tiếp tục tìm hiểu các Module còn lại của chương trình.

Ná»™i dung chính cá»§a Module Phân tích tài chính

Chuyên gia tài chính cao cấp – PGS.TS Đặng Đức Sơn là Giảng viên đồng hành cùng học viên CFO K44 trong Module Phân tích tài chính doanh nghiệp.

Theo đó, chuyên gia sẽ hướng dẫn học viên tìm hiểu các nội dung chính:

  • Kỹ năng phân tích tài chính cho chủ doanh nghiệp
  • Kỹ năng kiểm tra báo cáo tài chính
  • PT khả năng thanh toán của DN
  • Phân tích khả năng sinh lời của doanh nghiệp
  • Phân tích dòng tiền của doanh nghiệp

Chương trình đào tạo Giám đốc tài chính của Viện Quản trị Tài chính AFC đặc biệt hơn các đơn vị đào tạo khác. Xuyên suốt toàn bộ chương trình, Giảng viên không những cung cấp kiến thức cần thiết cho học viên mà còn giúp họ rèn luyện để nâng cao nhiều kỹ năng nghề nghiệp.

Các Case Study và tình huống thực tiễn được Giảng viên lồng ghép phù hợp sau mỗi vấn đề. Qua đó, học viên sẽ nhìn nhận vấn đề, phân tích, đánh giá,…Từ đó xâu chuỗi, nắm được phương pháp đúng sai, nắm kiến thức tốt hơn.

Sau khóa Giám đốc tài chính K44, Viện Quản trị Tài chinhAFC sẽ tiếp tục triển khai tuyển sinh và đào tạo khóa mới nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao cho ngành tài chính Việt Nam.

 

Lớp Giám đốc tài chính (CFO) sẽ bắt đầu lại trong tháng 5

Sau nhiều tháng cùng cả nước chống dịch COVID-19, Viện Quản trị Tài chính AFC sẽ bắt đầu triển khai các lớp Giám đốc tài chính (CFO) trực tiếp tại trung tâm đào tạo vào tháng 5/2020. Thời gian cụ thể sẽ được cung cấp trong bài viết dưới đây.

Thời gian học lại của lớp Giám đốc tài chính CFO

Tình hình dịch Covid-19 trên cả nước trong những ngày cuối tháng 4 có những chiều hướng tốt đẹp, số ca khỏi bệnh tăng lên, tính đến nay đã liên tiếp 1 tuần không có ca nhiễm mới nào. Vì vậy, lãnh đạo Viện Quản trị Tài chính AFC mến thông báo đến các học viên lớp Giám đốc tài chính (CFO) lịch học mới trong tháng 5 này.

Thời gian cụ thể dự kiến:

Ngày 9/5/2020: Module Quản trị dòng tiền

Ngày 16/5/2020: Module Quản trị dòng tiền

Ngày 23/5/2020: Module Quản trị tài chính dự án

Ngày 30/5/2020: Module Quản trị tài chính dự án

Ngày 6/6/2020: Module Lập kế hoạch tài chính

Ngày 13/6/2020: Module Lập kế hoạch tài chính

Ngày 20/6/2020: Module Phân tích tài chính

Ngày 27/6/2020: Module Phân tích tài chính

Mọi sự thay đổi sẽ được thông báo trước đó đến từng học viên.

Khai giảng khóa Giám đốc tài chính mới

Phần lớn người làm tài chính ở Việt Nam hiện nay đang thiếu nhiều kỹ năng quan trọng. Vì vậy, họ không mạnh dạn tham mưu cho lãnh đạo, cũng như lãnh đạo không tin tưởng vào bộ phận tài chính để đưa ra những quyết định quan trọng. Vậy nên việc tham gia các khóa đào tạo/ khóa học giám đốc tài chính là điều cần thiết trong thời đại hiện nay.

Tiếp nối sự thành công của các khóa học CFO trước, cũng như được sự tín nhiệm của học viên, Viện Quản trị Tài chính AFC tiếp tục khai giảng khóa đào tạo mới kể từ tháng 5/2020 trở đi.

Lớp Giám đốc tài chính (CFO) tại Viện Quản trị Tài chính AFC

Khóa Giám đốc tài chính tại Viện Quản trị Tài chính AFC gồm 16 buổi học. Trọng tâm của khóa học hướng người làm tài chính vào 4 mảng nòng cốt. Đó là:

+ Quản trị dòng tiền doanh nghiệp

+ Quản trị tài chính dự án

+ Lập kế hoạch tài chính

+ Phân tích và kiểm soát nội bộ tài chính DN

Khóa CFO được chính các chuyên gia cao cấp Tài chính giảng dạy. Đặc biệt, các Case Study thực tiễn được áp dụng rộng rãi trong suốt quá trình học tập của học viên.

 

Viện Quản trị Tài chính AFC gặp đỡ trường Nhật ngữ Atago

Chiều ngày 25/1/2019, tại văn phòng Hà Nội của Viện Quản trị Tài chính AFC đã diễn ra buổi gặp mặt với đối tác đến từ trường Nhật ngữ Atago. Đây được xem như dấu mốc quan trọng trong sự phát triển, hợp tác đào tạo đôi bên.

Viện Quản trị Tài chính AFC gặp đỡ trường Nhật ngữ Atago

Viện Quản trị Tài chính AFC trực thuộc Công ty TNHH AFC Việt Nam ra đời với sứ mệnh cung cấp dịch vụ đào tạo tài chính chất lượng cao ngay trong chính môi trường cạnh tranh hướng tới chuyên nghiệp hóa.

Mục tiêu của AFC Việt Nam là trở thành một trong các công ty lớn nhất Việt nam trong lĩnh vực đào tạo ngắn hạn về tài chính – kế toán kiểm toán với các sản phẩm  – dịch vụ hướng theo chuẩn Quốc tế.

Viện Quản trị Tài chính AFC tặng quà lưu niệm cho trường Nhật ngữ Atago

Với sứ mệnh như vậy, Viện Quản trị Tài chính AFC đã có một bước tiến mới hơn trong con đường đào tạo giáo dục của mình – mở rộng thị trường sang quốc tế. Bởi vậy, chiều ngày 25/1/2019, cuộc gặp gỡ với đoàn đối tác đến từ trường Nhật ngữ Atago đã diễn ra.

Trường Nhật ngữ Atago đào tạo tiếng Nhật “cấp độ đại học” và cùng với đó là hỗ trợ việc làm tại các doanh nghiệp tại Nhật Bản. Cụ thể, họ cung cấp chương trình giảng dạy tập trung vào tiếng Nhật chính xác dành cho kinh doanh, cách cư xử và biểu hiện trong kinh doanh theo hình thức của xã hội Nhật Bản. Có thể nói, trường Nhật ngữ Atago là ngôi trường thích hợp nhất cho những bạn muốn học lên cao và làm việc tại Nhật trong tương lai.

Hi vọng hai bên sẽ hợp tác lâu dài

Cùng với lĩnh vực đào tạo hướng tới mục tiêu tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao trong kinh doanh – kinh tế, Viện Quản trị Tài chính AFC và trường Nhật ngữ Atago mong muốn sẽ trở thành đối tác lâu dài của nhau.

Triết lý giáo dục của trường Nhật ngữ Atago: Nỗ lực nuôi dưỡng nguồn lực làm việc trên khắp thế giới, thông qua giáo dục tiếng Nhật, phát triển nguồn nhân lực ưu tú trong xã hội, hỗ trợ tối đa với mục tiêu trúng tuyển vào các trường mà học sinh, sinh viên mong muốn.

Lời nhắn từ thầy Hiệu trưởng Yanagi Meiji:

Trường ngôn ngữ Nhật Bản Asago lấy triết lí kinh doanh là “Trường Nhật ngữ được hài lòng bởi học sinh”, “Tạo ra tập thể học sinh xuất sắc”, “Trường Nhật ngữ có thể cống hiến cho khu vực và thế giới”. Trong những năm gần đây, mục đích của người học tiếng Nhật đã và đang đa dạng hóa, và chúng tôi cũng hướng đến những mục tiêu khác nhau.

Trường Nhật ngữ Atago coi niềm vui, việc tìm ra ước mơ trong tương lai và thành công của các bạn sinh viên là hạnh phúc của mình, chúng tôi đang nỗ lực nhằm cung cấp ngày càng nhiều sinh viên tốt nghiệp từ trường ra thế giới.

Phòng Tuyển sinh & Đào tạo doanh nghiệp – Quản trị Tài chính AFC

Hotline: 0918 924 388

+84 24 6282 7682 – Máy lẻ 106

Địa chỉ: Tầng 1, Tòa nhà NO6B1, P.Thành Thái, Q.Cầu Giấy, TP.Hà Nội

Cơ sở TP Hồ Chí Minh: Tầng 4, Tòa nhà 109, đường Cộng Hòa, P.12, Q.Tân Bình, TP.Hồ Chí Minh

Hoàn thiện thể chế quản lý thuế, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh.

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 6, sáng 8/11, sau khi biểu quyết thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2019, các đại biểu Quốc hội đã nghe Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính, Ngân sách về dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi). 

 

(Ảnh minh họa: Nguồn Internet)

Dự kiến, dự án Luật quản lý thuế (sửa đổi) trình Quốc hội khoá XIV xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 6 và thông qua tại Kỳ họp thứ 7.

Tạo cơ sở để xây dựng hệ thống quản lý thuế hiện đại trong điều kiện hội nhập

    Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi) do Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng trình bày nêu rõ Luật quản lý thuế được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007, đã được sửa đổi, bổ sung ba lần vào các năm 2012, 2014 và năm 2016.    

Sau hơn 10 năm thực hiện, Luật quản lý thuế đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Tuy hiên, công tác quản lý thuế nói chung và quy định pháp luật về quản lý thuế nói riêng cũng có những hạn chế bất cập nhất định như việc thường xuyên bổ sung, sửa đổi văn bản luật đã ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế; một số văn bản pháp luật khác cũng có nội dung quy định về quản lý thuế, vì vậy chưa tạo ra sự thống nhất trong các văn bản quy định pháp luật.

    Phạm vi điều chỉnh của Luật quản lý thuế chưa bao quát hết các khoản thu khác trong Ngân sách Nhà nước, mặt khác hoạt động kinh doanh của khu vực kinh tế cá thể, hộ gia đình hoặc khu vực kinh tế phi chính thức chưa được quy định đầy đủ… 

    Qua đánh giá thực trạng việc thực thi Luật quản lý thuế và qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, Chính phủ thấy rằng việc sửa đổi Luật quản lý thuế ở thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, nhằm hoàn thiện thể chế quản lý thuế, thực hiện cải cách hành chính, tạo ra môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh, tạo điều kiện phát triển các thành phần kinh tế; tiếp cận tới các chuẩn mực và thông lệ quốc tế để góp phần thu hút đầu tư trong nước, nước ngoài, tạo cơ sở để xây dựng hệ thống quản lý thuế hiện đại trong điều kiện hội nhập; tạo hành lang pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ thông tin cho công tác quản lý thuế, trong đó có việc áp dụng rộng rãi phổ biến quản lý thuế điện tử, giao dịch điện tử công khai, minh bạch; khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay đồng thời rà soát và thống nhất giữa Luật quản lý thuế và các văn bản pháp luật có liên quan. 

(Ảnh minh họa: Nguồn Internet)

    Mục đích việc xây dựng Luật quản lý thuế (sửa đổi) hoàn chỉnh, toàn diện nhằm mục đích tạo cơ sở cho quản lý thuế hiện đại, tiếp cận tới những chuẩn mực, thông lệ quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế, cho cơ quan quản lý thuế thực hiện nghiêm quyền, nghĩa vụ của người nộp thuế; quyền và trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế theo quy định pháp luật, tích cực phòng chống tham nhũng, tiêu cực.

    Dự thảo Luật gồm 17 chương, 152 điều, với các nội dung chính quy định về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng; nội dung, nguyên tắc quản lý thuế và các hành vi bị cấm; nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan liên quan đến quản lý thuế; về đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế; về các biện pháp xử lý nợ đọng thuế: khoanh nợ, xóa nợ, miễn tiền thuế, tiền chậm nộp; về áp dụng hóa đơn, chứng từ điện tử; về thanh tra, kiểm tra thuế và các giải pháp nhằm nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế. 

    Dự thảo Luật cũng quy định các nội dung liên quan đến việc xử lý vi phạm hành chính về quản lý thuế; quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết; về quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử… 

    Bổ sung những nội dung quy định cụ thể hơn về nhiệm vụ, trách nhiệm của các bộ, ngành trong quản lý thuế

    Đồng thời, các đại biểu Quốc hội đã nghe Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội Nguyễn Đức Hải trình bày báo cáo thẩm tra dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi). 

(Mang đến môi trường kinh doanh lành mạnh )

    Theo báo cáo thẩm tra, Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội nhận định hồ sơ trình dự án Luật đã đảm bảo yêu cầu của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và thống nhất với tên gọi của Luật là Luật quản lý thuế (sửa đổi), vì phạm vi sửa đổi lần này khá rộng, bổ sung nhiều nội dung mới phức tạp, quan trọng. 

    Tuy nhiên, để có cơ sở thẩm tra, đánh giá và để các đại biểu Quốc hội có căn cứ, xem xét cho ý kiến đối với từng nội dung, đề nghị Chính phủ cần thuyết minh rõ hơn về cơ sở, nguyên nhân và lý do cần bổ sung các quy định mới, bỏ những quy định không còn phù hợp trong Luật hiện hành. 

    Về tính cụ thể của dự án Luật, Ủy ban Tài chính, ngân sách nhận thấy, so với Luật hiện hành thì dự thảo Luật sửa đổi còn nhiều quy định chưa cụ thể. Luật hiện hành có 20 điều giao Chính phủ quy định chi tiết, dự thảo lần này có khoảng 1/4 số điều của Luật (36/152 điều) và 13 khoản giao Chính phủ quy định chi tiết, trong khi đó có khoảng 15 Điều trong Luật hiện hành không giao Chính phủ quy định chi tiết nay lại được bổ sung giao Chính phủ quy định chi tiết, trong khi Tờ trình của Chính phủ không giải thích lý do. Do vậy, đề nghị Chính phủ cần giải trình rõ lý do cụ thể.

    Về nguyên tắc quản lý thuế, Ủy ban Tài chính, Ngân sách đề nghị nghiên cứu bổ sung việc áp dụng nguyên tắc "giao dịch độc lập" trong quản lý thuế đối với người nộp thuế có phát sinh giao dịch với các bên có quan hệ liên kết nộp thuế tương xứng với giá trị tạo ra tại Việt Nam đồng thời, bổ sung vào Điều 49 và Điều 50 theo nguyên tắc quản lý thuế căn cứ vào bản chất và nguyên tắc giao dịch độc lập. 

    Về những hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý thuế, Ủy ban Tài chính, Ngân sách đề nghị cần bố cục, sắp xếp theo từng nhóm đối tượng: cán bộ quản lý thuế, người nộp thuế.

    Ngoài ra, dự thảo Luật chưa quy định hành vi bị cấm đối với cơ quan, tổ chức liên quan, do đó cần nghiên cứu, bổ sung nội dung này trong dự án Luật.

    Về nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác thuộc Chính phủ trong việc quản lý thuế, Ủy ban Tài chính, Ngân sách đề nghị bổ sung những nội dung quy định cụ thể hơn về nhiệm vụ, trách nhiệm của các bộ, ngành trong quản lý thuế về chống chuyển giá, gửi giá, trốn thuế, xử lý nợ đọng, truy thu thuế, cưỡng chế về thuế. 

    Về quyền của người nộp thuế, Ủy ban Tài chính, Ngân sách đề nghị bổ sung quy định quyền của người nộp thuế được nhận biên bản của cơ quan Kiểm toán Nhà nước, cơ quan Thanh tra và các cơ quan có thẩm quyền khi kiểm tra, đối chiếu nghĩa vụ thuế của người nộp thuế khi thanh tra, kiểm toán công tác quản lý thu Ngân sách Nhà nước của cơ quan quản lý thuế.

    Về xử phạt vi phạm hành chính, Ủy ban Tài chính, Ngân sách cho rằng dự án Luật đã bỏ quy định "về xử lý vi phạm pháp luật về thuế đối với cơ quan quản lý thuế" (Điều 112) và "xử lý vi phạm pháp luật về thuế đối với công chức quản lý thuế" (Điều 113) trong Luật hiện hành, tuy nhiên trong Tờ trình của Chính phủ không làm rõ lý do bỏ các quy định này, trong khi vẫn giữ quy định "về hành vi vi phạm hành chính về thuế đối với tổ chức, cá nhân có liên quan" (Điều 146) là chưa đảm bảo tính thống nhất và công bằng trong xử lý vi phạm về thuế giữa các đối tượng…

    Cũng trong phiên họp sáng nay, các đại biểu Quốc hội đã làm việc tại tổ, thảo luận, cho ý kiến về dự án Luật Kiến trúc./.

 

Nguồn: Bộ Tài chính

 

06 chính sách nổi bật có hiệu lực từ tháng 12/2018

Quy định mới về tiền lương ngày nghỉ lễ, điều chỉnh lương hưu cho lao động nữ, trường hợp được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh… là những chính sách mới có hiệu lực từ ngày 1/12/2018.

 

 

5 trường hợp được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh

(Ảnh minh họa)

Đây là một trong những nội dung được nêu tại Nghị định số 146 quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế.  Theo Nghị định, hỗ trợ 100% chi phí khám chữa bệnh (KCB) đối với 5 trường hợp, trong đó có:

Hỗ trợ 100% chi phí KCB đối với người có công với cách mạng; người được hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng; người thuộc hộ nghèo, người dân tộc thiểu số ở vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn…

Các tuyến xã, trường hợp trường hợp chi phí cho một lần khám chữa bệnh thấp hơn 15% lương cơ sở (1,39 triệu đồng/tháng) cũng được hỗ trợ 100%. 

Đối với các trường hợp khác, mức hưởng bảo hiểm y tế chỉ từ 80 – 95%.

Nghị định này được Chính phủ ban hành ngày 17/10/2018, có hiệu lực từ ngày 1/12/2018.

Quy định mới về tiền lương ngày nghỉ lễ

(Ảnh minh họa)

Theo Nghị định số 148 sửa đổi, bổ sung Nghị định 05 về tiền lương làm căn cứ để trả cho người lao động trong ngày nghỉ hàng năm, ngày nghỉ hàng năm tăng thêm theo thâm niên, ngày nghỉ lễ, Tết và ngày nghỉ việc riêng có hưởng lương. 

Cụ thể, trong các ngày nghỉ nêu trên, tiền lương được tính như sau: Tiền lương theo hợp đồng lao động chia cho số ngày làm việc bình thường trong tháng theo quy định của người sử dụng lao động, nhân với số ngày người lao động nghỉ.

Trước đây, tại Nghị định 05, tiền lương ghi trong hợp đồng lao động được quy định cụ thể là tiền lương của tháng trước liền kề.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15/12/2018.

Tạm ngừng nhập khẩu một số loại phế liệu

Bộ Công Thương vừa ban hành Thông tư số 41/2018/TT-BCT quy định danh mục phế liệu tạm ngừng kinh doanh tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu.

Danh mục phế liệu tạm ngừng kinh doanh tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu gồm: Thạch cao; thạch cao khan; thạch cao plaster đã hoặc chưa nhuộm màu, có hoặc không thêm một lượng nhỏ chất xúc tác hay chất ức chế.

Xỉ hạt từ công nghiệp luyện sắt hoặc thép; xỉ, xỉ luyện kim, vụn xỉ và các phế thải khác từ công nghiệp luyện sắt hoặc thép; xỉ, tro hoặc cặn, có chứa kim loại, arsen hoặc các hợp chất của chúng;

Các nguyên tố hóa học đã được kích tạp dùng trong điện tử, ở dạng đĩa, tấm mỏng hoặc các dạng tương tự, các hợp chất hóa học đã được kích tạp dùng trong điện tử cũng nằm trong danh mục này.

Ngoài ra, giấy loại hoặc bìa loại thu hồi; tơ tằm phế liệu; phế liệu lông cừu hoặc lông động vật loại mịn hoặc loại thô, kể cả phế liệu sợi nhưng trừ lông tái chế… cũng phải tạm ngừng kinh doanh tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu.

Thông tư nêu rõ danh mục phế liệu trên không áp dụng đối với trường hợp kinh doanh chuyển khẩu theo hình thức hàng hóa được vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu, không qua cửa khẩu Việt Nam.

Đối với những lô hàng phế liệu đã làm thủ tục hải quan tạm nhập, chuyển khẩu trước ngày thông tư có hiệu lực, được tiếp tục thực hiện tái xuất, chuyển khẩu theo quy định tại Nghị định 69/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương và các quy định hiện hành. 

Thông tư 41 có hiệu lực thi hành từ ngày 20/12/2018 đến hết ngày 31/12/2019.

Mức giá cước tối đa dịch vụ bưu chính phổ cập

Từ ngày 01/12/2018, mức giá cước tối đa dịch vụ bưu chính phổ cập được áp dụng theo Thông tư số 12/2018/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông, thông tư được ban hành ngày 15/10/2018.

Theo đó, mức giá cước tối đa dịch vụ thư cơ bản (gồm cả bưu thiếp) trong nước cho lần lượt các nấc khối lượng đến 20g; trên 20g đến 100g; trên 100g đến 250g là 4.000 đồng; 6.000 đồng; 8.000 đồng. Mỗi 250g tiếp theo đến 2000g là 2.000 đồng.

Mức giá cước tối đa cho dịch vụ thư cơ bản từ Việt Nam đi các nước dao động từ 15.000 đồng – 23.000 đồng ở nấc khối lượng 20g tùy thuộc vào quốc gia và vùng lãnh thổ…

Nghị định điều chỉnh lương hưu cho lao động nữ

Ngày 7/11/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 153 quy định chính sách điều chỉnh lương hưu đối với lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu từ năm 2018 đến năm 2021 có thời gian đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) từ đủ 20 năm đến 29 năm 06 tháng. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 24/12/2018.

Mức điều chỉnh sẽ được tính bằng mức lương hưu theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội 2014 tại thời điểm bắt đầu hưởng lương hưu nhân với tỷ lệ điều chỉnh tương ứng với thời gian đã đóng BHXH và thời điểm hưởng lương hưu.

Cụ thể: Nếu nghỉ hưu năm 2018, tỷ lệ điều chỉnh cao nhất là 12,3%; thấp nhất là 1,08%, tùy thuộc vào thời gian đã đóng BHXH; Nếu nghỉ hưu năm 2019, tỷ lệ điều chỉnh cao nhất là 9,23%, thấp nhất là 0,81%, tùy thuộc vào thời gian đã đóng BHXH….

Điều kiện mới với trang thông tin điện tử, mạng xã hội

(Ảnh minh họa)

Theo Nghị định số 150/2018/NĐ-CP, một số điều kiện hoạt động đối với trang thông tin điện tử tổng hợp, mạng xã hội được điều chỉnh từ ngày 24/12/2018, cụ thể như:

– Về nhân sự bộ phận kỹ thuật: Yêu cầu có ít nhất 01 nhân sự quản lý nội dung thông tin và 01 nhân sự quản lý kỹ thuật; thay vì chỉ yêu cầu có tối thiểu 01 người như trước đây.

– Về tên miền: Trang thông tin điện tử tổng hợp và mạng xã hội của cùng tổ chức, doanh nghiệp không được sử dụng cùng tên miền có dãy ký tự giống nhau (bao gồm cả tên miền thứ cấp).

(Theo Tapchitaichinh)

Dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi): Nhiều quy định mới có lợi cho người nộp thuế

Dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi), đã bổ sung nhiều quy định mới có lợi cho người nộp thuế (NNT). Việc sửa đổi luật lần này được thực hiện khá công phu, toàn diện, phù hợp với định hướng của Chính phủ là hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp (DN).

 

 

(Ảnh minh họa: nguồn Internet)

Một số điểm mới cơ bản, có lợi cho người nộp thuế

* NNT được biết thời hạn giải quyết hoàn thuế, số thuế không được hoàn và vì sao không được hoàn.

* Không bị xử lý vi phạm về thuế, không tính tiền chậm nộp đối với trường hợp do NNT thực hiện theo văn bản của cơ quan quản lý thuế.

* Tăng thời gian khai quyết toán thuế TNCN từ 90 ngày lên 120 ngày kể từ ngày kết thúc năm dương lịch.

* Miễn thuế đối với NNT có số thuế phải nộp hàng năm từ 50.000 đồng trở xuống.

* Được khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi cơ quan thuế đã công bố kết luận thanh tra, kiểm tra thuế

(Ảnh minh họa: nguồn Internet)

Kéo dài thời hạn khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân

Một trong những điểm mới rất đáng chú ý của dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi) lần này, đó là quyền của NNT được mở rộng hơn rất nhiều so với luật hiện hành. Theo đó, ngoài 10 quyền của NNT đã được quy định trong luật hiện hành, dự thảo đã bổ sung thêm 2 quyền nữa. Cụ thể, tại khoản 4, Điều 17 dự thảo quy định: “NNT được hưởng các ưu đãi về thuế, hoàn thuế theo quy định của pháp luật về thuế; được biết thời hạn giải quyết hoàn thuế, số thuế không được hoàn và căn cứ pháp lý đối với số thuế không được hoàn”.

Ngoài ra, tại khoản 10, Điều 17 cũng quy định, NNT không bị xử lý vi phạm về thuế, không tính tiền chậm nộp đối với trường hợp do NNT thực hiện theo văn bản của cơ quan thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến nội dung xác định nghĩa vụ thuế của NNT. Quy định mới này được cho là đã tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho NNT đối với các trường hợp vì lý do nào đó, cơ quan thuế đã xác định không chính xác số thuế phải nộp, gây thiệt hại cho NNT.

Bên cạnh đó, dự thảo luật đã sửa đổi quy định về thời hạn khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân (TNCN) từ 90 ngày thành 120 ngày kể từ ngày kết thúc năm dương lịch (điểm c, khoản 2, Điều 45). Như vậy, quy định trong dự thảo đã kéo dài thêm 1 tháng so với thời hạn quyết toán thuế mà NNT phải thực hiện theo luật hiện hành.

Đánh giá về quy định này, bà Nguyễn Thị Huệ – Công ty TNHH tư vấn thuế CHC cho rằng, việc tăng thời hạn quyết toán thuế từ 90 ngày lên 120 ngày sẽ giúp NNT có thêm thời gian chuẩn bị tài liệu và thu thập chứng từ phục vụ cho quyết toán. “Ngoài ra, thời hạn quyết toán thuế TNCN khác với thời hạn quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và báo cáo tài chính sẽ làm giảm tải công việc của kế toán tại cùng một thời điểm, giúp cho NNT có thời gian kiểm tra kỹ và tránh được những sai sót xảy ra”, bà Huệ nói.

Được khai bổ sung khi đã công bố quyết định thanh tra

Một trong những điểm mới khác rất đáng chú ý của dự thảo luật, đó là: “Khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền đã ban hành kết luận, quyết định xử lý về thuế sau thanh tra, kiểm tra tại trụ sở NNT, thì NNT vẫn được khai bổ sung hồ sơ khai thuế. Trường hợp khai bổ sung làm tăng số thuế phải nộp, giảm số thuế đã được hoàn, giảm số thuế được miễn, giảm thuế, NNT có trách nhiệm nộp đủ số thuế còn thiếu, tiền chậm nộp. Đối với trường hợp này, NNT không bị xử phạt về hành vi khai sai, nhưng phải nộp bổ sung 10% trên số tiền thuế khai thiếu” (khoản 2, Điều 48).

(Ảnh minh họa: nguồn Internet)

Cũng liên quan đến nội dung kê khai và nộp thuế, dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi) quy định thời hạn nộp tiền thuế khai bổ sung là thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế có sai, sót. Đồng thời, bổ sung quy định nộp thuế TNDN tạm nộp theo quý, chậm nhất là ngày 30 của tháng đầu quý sau  (khoản 1, Điều 56). Quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho NNT khi thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước.

Theo thoibaotaichinhvietnam

                                                                                                                                      

Chính sách tài khóa thúc đẩy doanh nghiệp phát triển

Nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và toàn diện, cùng với đó là những tác động mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra nhiều cơ hội phát triển cho doanh nghiệp Việt Nam nhưng cũng có không ít thách thức đặt ra cần phải vượt qua.  Với việc ban hành nhiều cơ chếchính sách tài chính hỗ trợ doanh nghiệp, Chính phủ Việt Nam thể hiện quyết tâm nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp trong giai đoạn mới.

(Ảnh minh họa: Nguồn Internet)

Những hỗ trợ từ chính sách tài khóa

Trong thời gian qua, đặc biệt từ năm 2011 cho đến nay, DN được hỗ trợ, tạo điều kiện để có thêm nguồn vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua giảm tỷ lệ động viên vào ngân sách nhà nước (NSNN) trong chính sách thuế.

Theo đó, thuế suất thuế thu nhập DN (TNDN), thuế giá trị gia tăng (GTGT)… được ban hành, sửa đổi theo hướng giảm thuế suất, tăng cường ưu đãi thuế thông qua miễn thuế; gia hạn nộp thuế và các khoản thu NSNN… Cụ thể:

Thứ nhất, chú trọng các chính sách miễn, giảm thuế cho DN: Ngoài các chính sách miễn, giảm thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường chung bao gồm giảm thuế suất thuế TNDN phổ thông xuống còn 20% từ năm 2016, ưu đãi thuế có thời hạn, miễn thuế từ 2 – 4 năm và giảm tiếp 50% từ 5 – 9 năm theo địa bàn, theo lĩnh vực được áp dụng cho các DN có doanh thu từ thực hiện dự án đầu tư mới.

Áp dụng thuế suất 10% trong 15 năm đối với các DN có dự án mới ở các địa bàn đặc biệt khó khăn, DN hoạt động ở những lĩnh vực khoa học công nghệ, công nghệ cao, lĩnh vực bảo vệ môi trường, DN công nghệ cao hoặc DN ứng dụng công nghệ cao, các DN có dự án đầu tư mới trong lĩnh vực sản xuất có điều kiện, DN sản xuất sản phẩm thuộc danh mục công nghiệp hỗ trợ…

Bên cạnh đó, danh mục nhóm hàng với mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi riêng đã được bổ sung đối với nguyên vật liệu, linh kiện, bộ phận phụ trợ để sản xuất các sản phẩm công nghệ miễn thuế nhập khẩu phụ tùng, linh kiện để sản xuất, lắp ráp phương tiện vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt, trang thiết bị y tế; miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định cho DN lĩnh vực công nghiệp phụ trợ.

Một số khoản thu nộp khác của DN đã được giảm như giảm mức phạt chậm nộp thuế cho DN từ 0,05%/ngày xuống 0,03%/ngày…

Thứ hai, chú trọng ưu đãi thuế cho các DN nhỏ và vừa (DNNVV), DN có dự án đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp: DN khởi nghiệp được áp dụng thuế suất thuế TNDN thấp đối với DN mới thành lập từ dự án đầu tư; DN thực hiện chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực ưu tiên chuyển giao cho các tổ chức, cá nhân thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; Miễn thuế đối với một số khoản thu nhập từ thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và công nghệ; thu nhập từ bán sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu tiên áp dụng ở Việt Nam, thu nhập từ bán sản phẩm sản xuất thử nghiệm; Cho phép DN được trích tối đa 10% thu nhập tính thuế hàng năm để lập Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ.

Nhà đầu tư tham gia vào DN khởi nghiệp được hỗ trợ về thuế trong chuyển nhượng vốn với thuế suất 20% tính trên thu nhập từ chuyển nhượng vốn góp (áp dụng cho cả tổ chức và cá nhân). Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân được tính theo tỷ lệ 0,1% tính trên giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần.

Nếu là cá nhân không cư trú cũng được tính thuế theo tỷ lệ 0,1% theo từng lần phát sinh thu nhập khi chuyển nhượng vốn hoặc chứng khoán.

DN siêu nhỏ có tổng doanh thu năm dưới 3 tỷ đồng, DNNVV có thể được hỗ trợ thông qua giảm thuế suất thuế TNDN xuống còn từ 15% – 17% theo dự thảo nhằm hỗ trợ cho một lớp đối tượng rất rộng trong cộng đồng DN. 

Thứ ba, hỗ trợ DN về mặt bằng sản xuất thông qua các chính sách miễn, giảm tiền thuê đất: Bên cạnh các chính sách miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước trong thời gian xây dựng cơ bản theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt tối đa 03 năm kể từ ngày có quyết định cho thuê đất, thuê mặt nước (Nghị định số 46/2014/NĐ-CP); đồng thời, được tiếp tục miễn tiền thuê đất có thời hạn 11 năm, 15 năm hoặc toàn bộ thời gian xét theo địa bàn đầu tư.

Chính sách hỗ trợ DN về mặt bằng sản xuất thông qua giảm 50% tiền thuê đất phải nộp của năm 2011 và 2012 cho các tổ chức kinh tế đang hoạt động trong các ngành sản xuất; giảm 50% tiền thuê đất phải nộp của năm 2012 đối với một số tổ chức kinh tế cho DN hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ; giảm 50% tiền thuê đất năm 2013, năm 2014 đối với các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất… đã được thực hiện góp phần không nhỏ trong hỗ trợ DN.

Ngoài ra, DNNVV sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thuộc danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển còn được miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước theo quy định của pháp luật về đất đai.

Thứ tư, hỗ trợ DN để kích cầu tiêu dùng trong nước và thu hút nhân lực chất lượng cao: Theo Luật Thuế TNCN số 26/2012/QH13, người nộp thuế được nâng mức giảm trừ gia cảnh từ 4 triệu đồng/tháng lên 9 triệu đồng/tháng; mức giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc từ 1,6 triệu đồng/tháng lên 3,6 triệu đồng/tháng.

Đối tượng được miễn giảm thuế thu nhập cá nhân được mở rộng thêm là chủ tàu, cá nhân có quyền sử dụng tàu từ hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ trực tiếp phục vụ khai thác, đánh bắt thủy sản xa bờ và thu nhập của thuyền viên làm việc trên tàu; Các cá nhân nhân lực công nghệ cao làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin; dịch vụ công nghệ cao được giảm 50% số thuế thu nhập cá nhân phải nộp đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công…

Thứ năm, cắt giảm thủ tục hành chính nhằm tạo thuận lợi cho DN:Các biện pháp cải cách thủ tục hành chính trong ngành Thuế, Hải quan bao gồm: (i) Bãi bỏ một số thủ tục hành chính rườm rà (năm 2016 đã bãi bỏ 92 thủ tục hành chính); (ii) Giảm số lần kê khai và nộp thuế GTGT từ 12 lần xuống còn 4 lần/ năm, thuế TNDN từ 5 lần/năm xuống còn 1 lần/năm đối với người nộp thuế có tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ của năm liền trước từ 50 triệu đồng trở xuống; (iii) Tiếp tục mở rộng hệ thống khai thuế qua mạng (hệ thống khai thuế điện tử đã được triển khai tại 63/63 tỉnh, thành phố và 100% các chi cục thuế trực thuộc với 623,7 nghìn DN tham gia, đạt 99,8% tổng số DN kê khai, 97,9% số DN đăng ký nộp thuế điện tử; (iv) Triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN giai đoạn 2016 – 2020; (v) Áp dụng thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại (VNACCS/VCIS) tại tất cả các đơn vị hải quan, đảm bảo chất lượng, không làm gián đoạn quá trình làm thủ tục hải quan của DN.

Những nỗ lực cải cách trong quản lý hành chính thuế, hải quan đã góp phần giảm thiểu giấy tờ, rút ngắn thời gian, giảm chi phí thực hiện các thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, xuất nhập khẩu.

Theo báo cáo môi trường kinh doanh toàn cầu được Ngân hàng Thế giới công bố ngày 31/10/2017, Việt Nam xếp thứ 68/190 quốc gia và vùng lãnh thổ (tăng 14 bậc so với năm 2017), trong đó chỉ số nộp thuế (Paying Taxes) xếp thứ 86/190 (tăng 81 bậc so với năm 2017), đứng thứ 4 trong nhóm nước ASEAN.

Bên cạnh giảm động viên vào NSNN, trong những năm qua Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ từ NSNN cho phát triển DN, thể hiện sự quyết tâm của Chính phủ nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển DN trong giai đoạn mới và bắt kịp cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, cụ thể:

Một là, chính sách trợ giúp phát triển DN siêu nhỏ, DNNVV theo Luật Hỗ trợ DNNVV và Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 với 8 nhóm giải pháp hỗ trợ DN trên các phương diện: Tiếp cận tín dụng; Quỹ Bảo lãnh tín dụng DNNVV; Hỗ trợ thuế, kế toán; Mặt bằng sản xuất; Công nghệ, cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung; Mở rộng thị trường; Hỗ trợ thông tin, tư vấn và pháp lý; Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực.

Trong đó, NSNN trợ giúp tài chính hỗ trợ tối thiểu 50% tổng chi phí khóa đào tạo khởi sự kinh doanh và quản trị DN và miễn học phí cho các DNNVV do nữ làm chủ, DN thuộc địa bàn kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; Hỗ trợ đào tạo nghề; Hỗ trợ sử dụng dịch vụ tư vấn; Hỗ trợ giá thuê mặt bằng cho DNNVV tại các khu công nghiệp, khu công nghệ cao tối đa 05 năm theo điều kiện ngân sách địa phương…

Bên cạnh những hỗ trợ chung cho DNNVV, chính sách của Chính phủ còn tập trung hỗ trợ DNNVV chuyển đổi từ hộ kinh doanh thông qua hướng dẫn, tư vấn miễn phí về hồ sơ, thủ tục thành lập DN; Miễn phí lệ phí đăng ký DN và phí cung cấp thông tin DN lần đầu; tư vấn, hướng dẫn miễn phí về các thủ tục hành chính thuế và chế độ kế toán trong 03 năm đầu; Miễn giảm thuế TNDN có thời hạn theo quy định của pháp luật về thuế TNDN; Miễn giảm tiền sử dụng đất có thời hạn theo quy định của pháp luật về đất đai…

Đối với DNNVV khởi nghiệp sáng tạo, Chính phủ hỗ trợ ứng dụng chuyển giao công nghệ, hỗ trợ sử dụng trang thiết bị tại cơ sở ký thuật, hỗ trợ tham gia cơ sở ươm tạo; Hướng dẫn thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm mới; Hỗ trợ đào tạo, huấn luyện chuyên sâu về xây dựng, phát triển sản phẩm, thu hút đầu tư; hỗ trợ thông tin truyền thông, xúc tiến thương mại… NSNN hỗ trợ thông qua tổ chức tài chính nhà nước của địa phương đầu tư vào DNNVV khởi nghiệp sáng tạo; Chính sách cấp bù lãi suất đối với khoản vay của DNNVV khởi nghiệp sáng tạo được thực hiện thông qua tổ chức tín dụng trong từng thời kỳ.

Đối với DNNVV tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị sẽ được hỗ trợ về đào tạo chuyên sâu về công nghệ, kỹ thuật sản xuất; Cung cấp thông tin về nhu cầu kết nối, sản xuất kinh doanh; Hỗ trợ phát triển thương hiệu, mở rộng thị trường; NSNN hỗ trợ thông qua chính sách cấp bù lãi suất đối với khoản vay của DNNVV tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị thông qua các tổ chức tín dụng trong từng thời kỳ.

Hai là, chính sách hỗ trợ ngành, lĩnh vực: Để đẩy mạnh thu hút DN đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, phát triển mạnh mẽ các loại hình DN nông nghiệp, Chính phủ đã có các chính sách ưu đãi và hỗ trợ như: Miễn, giảm tiền sử dụng đất; Miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước; Hỗ trợ tập trung đất đai với kinh phí tương đương 20% tiền thuê đất, thuê mặt nước cho 05 năm đầu tiên kể từ khi dự án hoàn thành đi vào hoạt động; Hỗ trợ tín dụng; Hỗ trợ DN nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao; Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, phát triển thị trường; Hỗ trợ đầu tư cơ sở bảo quản, chế biến nông sản, giết mổ gia súc, thế tạo thiết bị, linh kiện, máy nông nghiệp…

Theo đó, ngân sách trung ương dành tối thiểu 5% vốn đầu tư phát triển hàng năm, ngân sách địa phương dành tối thiểu 5% vốn chi ngân sách địa phương hàng năm cho ngành Nông nghiệp, hỗ trợ sau đầu tư… Ngoài ra, chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp trong từng thời kỳ được thực hiện để bảo hiểm rủi ro thiên tai, rủi ro dịch bệnh đối với một số cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng thủy sản.

Theo đó, các tổ chức sản xuất nông nghiệp theo mô hình liên kết, quy mô lớn có ứng dụng khoa học công nghệ cao sẽ được hỗ trợ tối đa 20% phí bảo hiểm nông nghiệp từ NSNN (Nghị định số 58/2018/NĐ-CP).

Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành một số chính sách hỗ trợ cho DN khai thác thủy sản, ví dụ như hỗ trợ một lần sau đầu tư đối với tàu cá đóng mới khai thác hải sản xa bờ, tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ vỏ thép, vỏ composite với mức hỗ trợ 35% giá trị đầu tư đóng mới tùy theo công suất từ 800 CV đến trên 1000 CV…

Ba là, hỗ trợ DN sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ: Chương trình hỗ trợ gồm các hoạt động: Kết nối, hỗ trợ DN công nghiệp hỗ trợ trở thành nhà cung ứng sản phẩm cho khách hàng trong và ngoài nước, xúc tiến thu hút đầu tư nước ngoài và lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ (mức hỗ trợ tối đa từ 70% – 100% tùy trường hợp); Hỗ trợ áp dụng hệ thống quản lý đáp ứng yêu cầu của các chuỗi sản xuất toàn cầu trong quản trị DN, quản trị sản xuất (mức hỗ trợ tối đa 100%); Hỗ trợ đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của các ngành sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ (mức hỗ trợ tối đa 70%); Hỗ trợ nghiên cứu phát triển, ứng dụng chuyển giao và đổi mới công nghệ trong sản xuất thử nghiệm linh kiện, phụ tùng, nguyên liệu vật liệu (mức hỗ trợ tối đa theo 3 mức 50%, 70% và 100% tùy hoạt động); Xây dựng và công bố thông tin về công nghiệp hỗ trợ hàng năm (mức hỗ trợ tối đa 100%). Kinh phí hỗ trợ từ nguồn NSNN hàng năm.

Bên cạnh các chính sách trên, NSNN còn dành nguồn lực cho các chương trình xúc tiến thương mại giúp DN giới thiệu, quảng bá sản phẩm, mở rộng thị trường trong nước và nước ngoài.

Mức hỗ trợ kinh phí đối với: (i) Chương trình Xúc tiến thương mại định hướng xuất khẩu là 70% đối với các khoản chi chi hỗ trợ thông tin thương mại, nghiên cứu thị trường, xây dựng cơ sở dữ liệu các thị trường xuất khẩu trọng điểm theo ngành hàng, chi hỗ trợ tuyên truyền xuất khẩu; (ii) Hỗ trợ 50% các khoản chi phí như thuê mặt bằng và thiết kế, dàn dựng gian hàng, dịch vụ phục vụ như điện nước, vệ sinh, an ninh, bảo vệ đối với các chương trình hội chợ, triển lãm tại các địa phương; (iii) Hỗ trợ 100% các khoản chi phí đối với các chương trình xúc tiến thương mại miền núi, biên giới và hải đảo về chi phí vận chuyển; chi phí thuê mặt bằng, dàn dựng gian hàng, điện nước, an ninh, vệ sinh… Chương trình phát triển thương mại điện tử miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo giai đoạn 2015-2020.

Khó khăn, thách thức đặt ra

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện, DN Việt Nam cũng đối mặt với không ít thách thức.

Cùng với quá trình hội nhập, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ làm thay đổi kinh tế thế giới với sự vươn lên mạnh mẽ của các nước chủ yếu dựa vào công nghệ hiện đại, đổi mới và sáng tạo. Vì vậy, dù đã có nhiều nỗ lực trong việc ban hành các chính sách tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ và phát triển DN, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một hạn chế sau:

Một là, một số chính sách thuế vẫn chưa thực sự góp phần tháo gỡ khó khăn cho DN. Ví dụ như chính sách thuế cho DN khởi nghiệp vẫn còn là những chính sách chung chung, chưa có chính sách đặc thù cho phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia (các DN khởi nghiệp áp dụng thuế suất thuế TNDN phổ thông như các DN khác là 20%, ưu đãi thuế suất hay miễn thuế vẫn theo ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn như các dự án đầu tư mới khác…).

Chưa có quy định chính sách thuế phân biệt đối với nhà đầu tư vào DN khởi nghiệp khi chuyển nhượng vốn.

Chính sách thuế hiện quy định đánh thuế đối với từng lần chuyển nhượng vốn, từng lần chuyển nhượng chứng khoán đối với việc đầu tư vào bất kỳ DN nào sau đó chuyển nhượng vốn… Các vướng mắc về mặt hàng chịu thuế GTGT như phân bón, trục chà lúa… Bên cạnh đó, vấn đề về thủ tục hành chính vẫn tiếp tục cần được cải cách để tạo thuận lợi hơn cho người dân, DN…

Hai là, các chính sách hỗ trợ cho DN mang tính khuyến khích chung, chưa cụ thể dẫn đến những khó khăn trong việc triển khai thực hiện, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ tài chính, mặt bằng sản xuất, ươm tạo DN…

Đối với chính sách chi NSNN cho các chương trình xúc tiến thương mại, tuy đã có những ưu điểm nhất định nhưng còn dàn trải, chưa tập trung, nguồn lực hạn chế, liên kết giữa khâu sản xuất và đầu ra còn yếu kém dẫn đến việc chi hỗ trợ từ NSNN còn chưa hiệu quả và chưa đạt được mục tiêu của chương trình.

Các chính sách chi cho thí điểm bảo hiểm xuất khẩu vẫn chưa đạt được những mục tiêu đặt ra, việc triển khai thí điểm gặp khó khăn vì các DN xuất khẩu còn chưa mua mua bảo hiểm ngay cả khi có sự hỗ trợ của Nhà nước…

Một số khuyến nghị

Để tiếp tục tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ DN đủ năng lực để cạnh tranh khi nền kinh tế hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, trong thời gian tới cần tập trung vào một số nhóm giải pháp sau:

Thứ nhất, triển khai thực hiện tốt các luật về thuế đã được Quốc hội thông qua nhằm giúp DN thực hiện chính sách một cách hiệu quả; Tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống chính sách thuế và thu ngân sách theo hướng tháo gỡ khó khăn cho DN.

Trong đó, đề xuất chuyển các đối tượng đang không chịu thuế GTGT như: Phân bón, tàu đánh bắt xa bờ và một số loại máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp sang đối tượng chịu thuế GTGT để DN được khấu trừ chi phí đầu vào; Bổ sung quy định DN sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế suất thuế GTGT 5% nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết sau 12 tháng hoặc 4 quý thì được hoàn thuế GTGT để DN tích tụ vốn đưa vào sản xuất; Nghiên cứu ban hành chính sách thuế hỗ trợ phát triển nông nghiệp sạch, khởi nghiệp sáng tạo…; Tiếp tục rà soát hoàn thiện các tiêu chí ưu đãi thuế hiện hành để đảm bảo tính minh bạch, qua đó tạo thuận lợi cho DN đủ điều kiện có được các ưu đãi cần thiết.

Đối với DN khởi nghiệp sáng tạo, chính sách cần được thiết kế với mục tiêu hỗ trợ cho các nhà đầu tư khởi nghiệp; nghiên cứu xây dựng chính sách thuế đặc thù cho DN khởi nghiệp sáng tạo,…

Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử. Đối với lĩnh vực thuế, hải quan cần: Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế; Ban hành chế độ quản lý rủi ro đối với các DN thuộc đối thượng thanh tra/kiểm tra về thuế; Tiếp tục sửa đổi quy định về hồ sơ hoàn thuế, phần mềm hỗ trợ công tác tự động xây dựng báo cáo hồ sơ hoàn thuế; Triển khai đồng bộ, rộng khắp ứng dụng CNTT; Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để đảm bảo việc triển khai đầy đủ hệ thống thông quan điện tử VNACCS/VCIS…

Thứ ba, rà soát, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ phát triển DN để đảm bảo việc hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm, đúng mục tiêu, đúng đối tượng cần hỗ trợ. Ngoài ra, tăng cường công tác tuyên truyền hệ thống chính sách thuế và thu ngân sách, tạo sự minh bạch, rõ ràng, hỗ trợ DN trong hoạt động sản xuất kinh doanh và thực hiện tốt nghĩa vụ với Nhà nước.             

Theo Tapchitaichinh